|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 11-6-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Long Giang;
Ông Huỳnh Thanh Hưng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST–HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Viêng Văn C, sinh năm 1988 tại Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; trình độ văn hóa: 3/12; nghề nghiệp: công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Viêng Văn Q và bà Vang Thị N; có vợ Lô Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 05/10/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Quang Văn T1, sinh năm 1985; địa chỉ: Bản P, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Viêng Văn C và vợ là Lô Thị T thuê ở trọ tại ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương. Sáng ngày 05/10/2023, do cần ma túy sử dụng, Viêng Văn C đón xe khách đi xuống khu vực Ngã tư Sở Sao để tìm hỏi mua ma túy. Chói đến gặp một đối tượng nam chạy xe ôm (không rõ họ tên, địa chỉ), khoảng 60 tuổi, đi xe máy không có biển số. Chói chủ động trao đổi hỏi mua ma túy loại heroin với số tiền 1.500.000 đồng thì đối tượng này đồng ý. Người này nhận tiền trước rồi yêu cầu C đợi. Khoảng 10 đến 15 phút sau, người này quay lại đưa cho C một gói thuốc lá hiệu Thăng Long bên trong có 34 đoạn ống hút hàn kín chứa chất ma túy loại heroin. Mua được ma túy, C cất giấu trong người rồi đón xe khách về phòng trọ của mình tại ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương. Tại đây, C lấy một đoạn ống hút ra sử dụng một ít, phần ma túy còn lại Chói để trong miếng giấy bạc thuốc lá gói lại rồi cất miếng giấy bạc này cùng 30 đoạn ống hút hàn kín (tép) chứa ma túy vào một bao tay treo trên sào phơi đồ trong phòng trọ. Sau khi cất giấu ma túy, C đi làm tại công ty H2, trong khu công nghiệp T thuộc ấp A, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương và mang theo 03 tép ma túy để sử dụng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi C đang ở trong công ty H thì Quang Văn T1 điện thoại cho C vào số 0346.875.xxx hỏi mua 02 tép ma túy với giá 400.000 đồng. Chói đồng ý bán và hẹn T1 đến gần công ty H2 để mua bán. Một lúc sau, T1 điều kiển xe mô tô biển số 37F1-122.96 đến thì gặp C đang đứng chờ T1 bên ngoài hàng rào công ty H2. Chói bán cho T1 02 tép ma túy với giá 400.000 đồng. T1 đưa C 500.000 đồng, trong đó có 400.000 đồng là tiền mua ma túy, còn 100.000 đồng là tiền T1 trả nợ cho C vì ngày 01/10/2023, C có cho T1 mượn 100.000 đồng.
Mua ma túy xong, Quang Văn T1 để ma túy vào trong gói thuốc hiệu Thăng Long cất trong túi quần bên phải của mình rồi khiển xe mô tô biển số 37F1-122.96 về phòng trọ của mình. Sau khi về đến phòng trọ, T1 lấy một tép ma túy ra sử dụng hết một ít, phần còn lại T1 hàn hín trong đoạn ống hút. Sau khi sử dụng ma túy xong, T1 bỏ hộp quẹt cùng miếng giấy bạc lại vào trong gói thuốc hiệu Thăng Long cất vào túi quần bên phải. T1 đi ra tiệm tạp hóa gần phòng trọ mua thẻ cào nạp tiền điện thoại rồi quay lại phòng trọ ngồi tại bàn ghế đá trước phòng trọ. Trong lúc T1 đang ngồi thì bị lực lượng Công an xã P, huyện P đến kiểm tra, phát hiện T1 đang có hành vi cất giữ 02 tép ma túy nên đã lập biên bản, tạm giữ tang vật và đưa về trụ sở để làm rõ hành vi vi phạm.
Còn Viêng Văn C sau khi bán ma túy cho Quang Văn T1 xong đi vào công ty. Sau khi tan ca, C về phòng trọ của mình lấy miếng giấy bạc còn một ít ma túy ra sử dụng và bỏ 01 tép ma túy (đem theo vào công ty nhưng chưa sử dụng) vào chung với 30 tép ma túy rồi để trong bao tay để trên sào phơi đồ. Đến khoảng 21 giờ 30 cùng ngày 05/10/2023, thì có lực lượng Công an đến làm việc và khám xét phòng trọ của C phát hiện thu giữ 31 đoạn ống hút có chứa ma túy mà C đang cất giấu trong phòng trọ số 07. Lực lượng đã lập biên bản giữ người khẩn cấp đối với C và tạm giữ toàn bộ số ma túy tang vật để xử lý theo quy định của pháp luật.
Vật chứng tạm giữ:
- - 01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO màu vàng thu giữ của Quang Văn T1 (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) ĐTDĐ hiệu itel màu xanh thu giữ của Quang Văn T1 (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia màu xanh thu giữ của Viêng Văn C (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) vỏ gói thuốc lá hiệu Thăng Long thu giữ của Quang Văn T1 (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) xe mô tô biển số 37F1- 122.96 thu giữ của Quang Văn T1 (đã qua sử dụng).
Ngày 06/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 185 trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh B giám định chất màu trắng trong 02 (hai) đoạn ống hút hàn kín gồm: 01 đoạn ống hút màu xanh (kí hiệu M1) và 01 đoạn ống hút màu đỏ (kí hiệu M2), bên trong có chứa chất màu trắng nghi vấn là ma túy (thu giữ của Quang Văn T1) và Quyết định trưng cầu giám định số 186 trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh B giám định chất màu trắng trong 31 (ba mươi mốt) đoạn ống hút hàn kín gồm: 09 đoạn ống hút nhựa hàn kín màu xanh dương (kí hiệu M1) chứa chất màu trắng; 08 đoạn ống hút nhựa hàn kín màu trắng (kí hiệu M2) chứa chất màu trắng; 12 đoạn ống hút nhựa hàn kín màu đỏ (kí hiệu M3) chứa chất màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín màu đỏ (kí hiệu M4) chứa chất màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín màu xanh lá cây (kí hiệu M5) chứa chất màu trắng (thu giữ của Viêng Văn C).
- - Tại kết luận giám định số: 562/KL-KTHS (MT) ngày 10/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận giám định về ma túy thu giữ của Quang Văn T1:
- + Các mẫu chất màu trắng gửi giám định đều là ma túy, loại Heroin, có khối lượng: 0,0664 gam (M1); 0,0078 gam (M2).
- + H lại đối tượng sau giám định: Có trọng lượng: M1= 0,0433 gam; mẫu vật M2 phục vụ hết cho công tác giám định.
- - Tại kết luận giám định số: 563/KL-KTHS (MT) ngày 13/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận giám định về ma túy thu giữ của bị can Viêng Văn C:
- + Các mẫu chất màu trắng gửi giám định đều là ma túy, loại Heroin, có khối lượng: 0,5578 gam (M1); 0,6762 gam (M2); 0,9528 gam (M3); 0,0984 gam (M4); 0,0779 gam (M5).
- + H lại đối tượng sau giám định: Có trọng lượng: 0,4863 gam (M1); 0,6029 gam (M2); 0,9012 gam (M3); 0,0585 gam (M4); 0,0563 gam (M5).
Qua quá trình điều tra, Viêng Văn C thừa nhận hành vi bán cho Quang Văn T1 02 tép ma túy với giá 400.000 đồng vào chiều ngày 05/10/2023 ở bên hông công ty H2. Còn 31 tép ma túy bị phát hiện thu giữ tại phòng trọ vào tối ngày 05/10/2023, C khai nhận cất giữ với mục đích sử dụng dần, không bán cho ai khác. Riêng về số tiền 100.000 đồng là tiền T1 trả nợ cho C do đã mượn trước đó.
Đối với Quang Văn T1 ban đầu khai nhận mua 02 tép ma túy của C với giá 400.000 đồng và trả nợ 100.000 đồng tiền còn thiếu do mua ma túy trước đó của C. Ngoài ra, T1 còn khai đã mua ma túy của C được khoảng 05 đến 06 lần. Tuy nhiên trong quá trình làm việc tại Cơ quan CSĐT - Công an huyện P, T1 khai lại về số tiền 100.000 đồng là tiền trả nợ và không mua ma túy 05 đến 06 lần như đã khai. Như vậy 31 tép ma túy bị phát hiện thu giữ tại phòng trọ vào tối ngày 05/10/2023 của Viêng Văn C chưa đủ chứng cứ chứng minh C dùng để mua bán.
Đối với chị Lô Thị T không biết việc Viêng Văn C cất giữ 31 tép ma túy trong phòng trọ nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Đối với người đàn ông không rõ họ tên địa chỉ đã bán ma túy cho C, CQĐT tiếp tục xác minh làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi tàng trữ ma túy của Quang Văn T1 chưa đủ trọng lượng để khởi tố nên ngày 28/11/2023, Công an huyện P đã xử phạt hình chính với số tiền là 5.000.000 đồng.
Đối với số tiền 400.000 đồng tiền ma bán ma túy, đề nghị yêu cầu C nộp lại để xung vào công quỹ.
Cáo trạng số 26/CT-VKSBB ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Viêng Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Viêng Văn C mức hình phạt từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Viêng Văn C mức hình phạt từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Viêng Văn C chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về biện pháp tư pháp:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư được niêm phong ghi số: 562/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số: 185/QĐ-KTMT ngày 06/10/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Bình Dương) có chữ kí và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ kí của Quang Văn T1 (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (bên giao mẫu), Trần Mạnh H1 (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại có trọng lượng: M1 = 0,0433 gam ma túy loại Heroine; mẫu vật M2 phục vụ hết cho công tác giám định (theo biên bản đóng gói niêm phong ngày 06/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B); 01 bì thư được niêm phong ghi số: 563/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số: 186/QĐ-KTMT ngày 06/10/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Bình Dương) có chữ kí và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ kí của Viêng Văn C (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (bên giao mẫu), Trần Mạnh H1 (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại 0,4863 gam (M1); 0,6029 gam (M2); 0,9012 gam (M3); 0,0585 gam (M4); 0,0563 gam (M5, ma túy loại Heroine (theo Biên bản đóng gói niêm phong ngày 06/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B); 01 (một) vỏ gói thuốc lá hiệu Thăng Long (đã qua sử dụng) là vật chứng của vụ án;
- + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia màu xanh (đã qua sử dụng) là công cụ Viêng Văn C thực hiện hành vi phạm tội.
- + Trả Quang Văn T1 01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO màu vàng (đã qua sử dụng), 01 (một) ĐTDĐ hiệu itel màu xanh (đã qua sử dụng) và 01 (một) xe mô tô biển số 37F1-122.96, nhãn hiệu BOSSCITY, loại xe hai bánh từ 50-175 cm³, dung tích xi lanh 124,7 cm³, sơn màu xanh, số khung: RL8WCJ1HY91000539, số máy: RL8153FMJ000539, do Quang Văn T1 sinh năm 1985, trú tại bản Pỏi, C, Q, Nghệ An đứng tên (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Buộc Viêng Văn C nộp lại số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 05/10/2023, tại ấp A xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Viêng Văn C đã bán 0,0742 gam ma túy, loại heroin cho Quang Văn T1 với giá 400.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo Viêng Văn C còn có hành vi tàng trữ 2,3631 gam ma túy loại heroin. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vây, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nha nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của bị cáo. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về biện pháp tư pháp:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi số: 562/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số: 185/QĐ-KTMT ngày 06/10/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Bình Dương) có chữ kí và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ kí của Quang Văn T1 (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (bên giao mẫu), Trần Mạnh H1 (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại có trọng lượng: M1 = 0,0433 gam ma túy loại Heroine; mẫu vật M2 phục vụ hết cho công tác giám định (theo biên bản đóng gói niêm phong ngày 06/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B); 01 bì thư được niêm phong ghi số: 563/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số: 186/QĐ-KTMT ngày 06/10/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Bình Dương) có chữ kí và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ kí của Viêng Văn C (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (bên giao mẫu), Trần Mạnh H1 (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại 0,4863 gam (M1); 0,6029 gam (M2); 0,9012 gam (M3); 0,0585 gam (M4); 0,0563 gam (M5, ma túy loại Heroine (theo Biên bản đóng gói niêm phong ngày 06/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B); 01 (một) vỏ gói thuốc lá hiệu Thăng Long (đã qua sử dụng) là vật chứng của vụ án.
- + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia màu xanh (đã qua sử dụng) là công cụ Viêng Văn C thực hiện hành vi phạm tội.
- + Trả Quang Văn T1 01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO màu vàng (đã qua sử dụng), 01 (một) ĐTDĐ hiệu itel màu xanh (đã qua sử dụng) và 01 (một) xe mô tô biển số 37F1-122.96, nhãn hiệu BOSSCITY, loại xe hai bánh từ 50-175 cm³, dung tích xi lanh 124,7 cm³, sơn màu xanh, số khung: RL8WCJ1HY91000539, số máy: RL8153FMJ000539, do Quang Văn T1 sinh năm 1985, trú tại bản Pỏi, C, Q, Nghệ An đứng tên (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Buộc bị cáo Viêng Văn C nộp lại số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 251 và Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Viêng Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Viêng Văn C 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Viêng Văn C chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2023.
- Về biện pháp tư pháp:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi số: 562/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số: 185/QĐ-KTMT ngày 06/10/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Bình Dương) có chữ kí và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ kí của Quang Văn T1 (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (bên giao mẫu), Trần Mạnh H1 (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại có trọng lượng: M1 = 0,0433 gam ma túy loại Heroine; mẫu vật M2 phục vụ hết cho công tác giám định (theo biên bản đóng gói niêm phong ngày 06/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B); 01 bì thư được niêm phong ghi số: 563/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số: 186/QĐ-KTMT ngày 06/10/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Bình Dương) có chữ kí và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ kí của Viêng Văn C (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (bên giao mẫu), Trần Mạnh H1 (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại 0,4863 gam (M1); 0,6029 gam (M2); 0,9012 gam (M3); 0,0585 gam (M4); 0,0563 gam (M5, ma túy loại Heroine (theo Biên bản đóng gói niêm phong ngày 06/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B); 01 (một) vỏ gói thuốc lá hiệu Thăng Long (đã qua sử dụng).
- + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia màu xanh (đã qua sử dụng).
- + Trả Quang Văn T1 01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO màu vàng (đã qua sử dụng), 01 (một) ĐTDĐ hiệu itel màu xanh (đã qua sử dụng) và 01 (một) xe mô tô biển số 37F1-122.96, nhãn hiệu BOSSCITY, loại xe hai bánh từ 50-175 cm³, dung tích xi lanh 124,7 cm³, sơn màu xanh, số khung: RL8WCJ1HY91000539, số máy: RL8153FMJ000539, do Quang Văn T1 sinh năm 1985, trú tại bản Pỏi, C, Q, Nghệ An đứng tên (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Buộc bị cáo Viêng Văn C nộp lại số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
- (Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa Công an huyện B – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Duy |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự về tội "mua bán trái phép chất ma túy" và tội "tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
