|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HS-PT
Ngày: 10-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tâm
Ông Trần Thanh Tòng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út N - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối bị cáo Phan Văn Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo: Phan Văn Đ, sinh năm 2000 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn D, sinh năm 1969 và bà Lâm Hồng X, sinh năm 1972; vợ Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 2002 (chưa đăng ký kết hôn); con có 01 người, sinh năm 2022; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 88/QĐ-XPVPHC, ngày 13-3-2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Tổ chức, thuê, xúi giục, lôi kéo dụ dỗ, kích động người khác cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác hoặc xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, đã nộp phạt ngày 29-01-2024 nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị bắt tạm giam từ ngày 14-11-2023 cho đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn Đ: Ông Nguyễn Văn T1 - Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Thanh H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).
Ngoài ra, vụ án còn có bị hại không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn Đ và anh Nguyễn Văn S là bạn bè quen biết nhau từ trước. Khoảng tháng 3 năm 2023, do buồn chuyện gia đình nên Đ bỏ nhà đi sống lang thang, không nghề nghiệp ổn định. Từ ngày 13-3-2023 đến trước ngày 29-4-2023, Đ nhiều lần mượn tiền của anh S để tiêu xài cá nhân, mỗi lần mượn từ 400.000 đồng đến 1.500.000 đồng, tổng cộng 2.900.000 đồng nhưng Đ không trả nên anh S không cho mượn nữa. Sau đó, trong khoảng thời gian từ ngày 29-4-2023 đến ngày 20-5-2023, Đ dùng hành vi gian dối sử dụng mạng xã hội tạo các nick Zalo giả người thân trong gia đình của mình nhắn tin cho anh S, lừa đảo để anh S chuyển tiền cho Đ mượn tổng cộng 07 lần, với số tiền 27.990.000 đồng rồi chiếm đoạt, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Đáng biết anh S đang cần vay số tiền 50.000.000 đồng để lo chi phí làm thủ tục đi hợp tác lao động ở nước ngoài, nên Đ hứa sẽ mượn người khác để cho anh S mượn số tiền trên. Đáng nói với anh S có chị ruột tên Phan Thị Ngọc G, có nick Zalo tên "Rick" kêu anh S kết bạn, Đáng sẽ nói chị của Đ cho anh S mượn số tiền 50.000.000 đồng, anh S đồng ý. Sau đó, Đ mua sim điện thoại rồi trực tiếp tạo tài khoản Z tên "Rich" đóng giả là chị G, chị ruột của Đ rồi kết bạn với nick Z "Văn Sơn" của anh S. Qua nhắn tin trò chuyện trên nick Z, Đ đóng giả chị G hứa sẽ cho anh S mượn số tiền 50.000.000 đồng vào cuối tháng 4 năm 2023. Đến ngày 29-4-2023, Đ tiếp tục đóng giả chị G nhắn tin vào nick Zalo của anh S với nội dung “Đáng đang ở tại tỉnh Bình Thuận để xin việc làm và đang tìm chỗ ở nên kẹt tiền, nhờ S chuyển cho Đ số tiền 5.000.000 đồng”. Do tin là thật, anh S đã mang xe mô tô biển số: 70K1-458.36 của anh S đi cầm cố lấy số tiền 5.000.000 đồng chuyển vào tài khoản số 7888688656789 của Đáng mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Ngân hàng M). Sau khi nhận được số tiền trên, Đ đã tiêu xài cá nhân hết.
- Lần thứ hai: Ngày 04-5-2023, Đ tiếp tục đóng giả là chị G thông qua nick Zalo "Rich" nhắn tin vào nick Zalo của anh S với nội dung “Không có tiền cho anh S mượn như đã hứa và đã trao đổi với mẹ của Đ tên Lâm Hồng X, đang sử dụng Zalo với nick Zalo "Xuân Lâm" kêu S kết bạn để trao đổi về việc bà X sẽ cho S mượn tiền”, anh S đồng ý. Đến ngày 06-5-2023, Đ tiếp tục mua 01 sim điện thoại và tạo nick Zalo tên "Xuân Lâm" giả là bà Xuân mẹ của Đ rồi kết bạn Z với anh S. Qua nhắn tin trò chuyện, Đ đóng giả bà X hứa cho anh S mượn số tiền 60.000.000 đồng và hẹn sau 05 ngày sẽ đưa tiền cho anh S. Ngày 06-5-2023, Đ điện thoại cho anh S nói “Đáng đang đi chơi ở thành phố V và có xảy ra mâu thuẫn đánh nhau với người khác trong quán ăn, nên làm bể nhiều đồ vật trong quán, chủ quán yêu cầu Đ bồi thường số tiền 5.000.000 đồng nhưng Đ không có tiền, Đ mượn S số tiền 5.000.000 đồng để bồi thường cho chủ quán”, nhưng anh S nói “Không có tiền”. Sau đó, Đ sử dụng nick Z "X" giả là bà X nhắn tin vào nick Zalo của anh S với nội dung “Hiện tại đang điều trị bệnh tại Bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh nên không thể đưa tiền cho Đ được nên nhờ S chuyển cho Đ số tiền 5.000.000 đồng và khi nào về sẽ rút tiền từ Ngân hàng trả lại sau”. Do tin là mẹ của Đ, nên anh S đã chuyển số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản của Đ. Sau khi nhận được số tiền trên, Đ đã tiêu xài cá nhân hết.
- Lần thứ ba: Vào khoảng hơn 10 giờ ngày 07-5-2023, Đ tiếp tục đóng giả là chị G thông qua nick Zalo "Rich" nhắn tin vào Zalo của anh S với nội dung: “Đáng đã đem xe mô tô của mẹ Đ đi cầm cố với số tiền 2.500.000 đồng, nên bị cha của Đ phát hiện kêu Đáng chuộc xe mang về, nếu Đáng không mang xe mô tô về cho mẹ Đ thì cha Đ sẽ thưa cho Đ đi tù nên nhờ S giúp chuyển khoản cho Đáng số tiền trên để Đáng chuộc lấy xe mang về”. Sau đó, anh S điện thoại cho Đ hỏi “Đáng có mang xe mô tô của mẹ Đ đi cầm cố không”, Đ nói “Có”. Do tin là thật, nên anh S đã chuyển số tiền 2.500.000 đồng vào tài khoản của Đ. Sau khi nhận được số tiền trên, Đ đã tiêu xài cá nhân hết.
- Lần thứ tư: Vào khoảng 09 giờ ngày 08-5-2023, Đ dùng điện thoại di động, đăng nhập vào Internet lấy hình ảnh tivi bị bể màn hình. Sau đó, Đ đóng giả bà X thông qua Z, nick "Xuân L" nhắn tin cho anh S với nội dung “Đáng về nhà quậy, đập bể màn hình tivi của ông nội Đ, cha Đáng kêu Đ kiếm tiền mua lại tivi và đánh Đáng, đuổi Đáng ra khỏi nhà”. Sau đó, Đ dùng nick Zalo của mình gửi hình ảnh tivi bị bể cho anh S. Đáng tiếp tục đóng giả bà X nhắn tin cho anh S “nhờ S tìm Đ và cho Đ mượn tiền để mua lại tivi trả lại cho cha Đáng, nếu không cha Đ tố cáo Đ sẽ đi tù”. Sau đó, anh S điện thoại cho Đ hỏi “Đáng có quậy đập bể tivi không”, Đ nói có và hiện tại Đ đang ở nhà trọ "Thu Ngọc" thuộc xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và nhờ anh S cho mượn tiền mua tivi trả cho cha Đáng, nhưng anh S nói “Không có tiền”. Để cho anh S tin, Đ tiếp tục đóng giả chị G, bà X thông qua hai nick Z "Rich" và "Xuân L" nhắn cho anh S với nội dung “Do không có tiền nên nhờ S cho Đ mượn”, anh S nhắn “S không có tiền”, Đ tiếp tục sử dụng hai nick Z "Rich" và "Xuân Lâm" nhắn kêu anh S đi mua điện thoại trả góp, sau đó bán lại lấy tiền cho Đ mượn, do tin nên anh S đồng ý. Sau đó, anh S cùng với Đ đến cửa hàng điện thoại di động "Đông Phương" thuộc xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Đ đưa cho anh S số tiền 1.000.000 đồng để anh S mua trả góp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 với giá 11.500.000 đồng, số tiền còn lại anh S phải trả góp trong thời hạn 06 tháng. Sau khi mua được điện thoại, Đ và anh S đến cửa hàng điện thoại di động "C" thuộc Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh do anh Nguyễn Văn C làm chủ, Đáng mang điện thoại di động vừa mua được bán số tiền 8.000.000 đồng. Sau khi bán được điện thoại trên, Đ đưa cho anh S 500.000 đồng, số tiền còn lại Đáng đã tiêu xài cá nhân hết.
- Lần thứ năm: Vào ngày 10-5-2023, Đ điện thoại cho anh S nói Đ đang ở tại Campuchia cùng một người cậu của Đ, do cậu của Đ thiếu nợ nên bị dân giang hồ đuổi dí và bỏ trốn để lại một mình Đáng, Đ không có tiền ăn uống, nên Đ hỏi mượn anh S số tiền 2.000.000 đồng. Do sợ anh S không tin tưởng, Đáng đóng giả bà X thông qua Z, nick "Xuân L" nhắn cho anh S “Hiện tại mẹ Đ không có tiền, nhờ S cho mượn số tiền trên đưa cho Đ, sau này sẽ trả lại”. Do tin là thật, nên ngày 10-5-2023 anh S đã chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản của Đ. Sau khi nhận được số tiền trên, Đ đã tiêu xài cá nhân hết.
- Lần thứ sáu: Vào khoảng 09 giờ ngày 13-5-2023. Đáng điện thoại anh S nói “Đáng có dự định qua "Casino" làm việc và đã được bạn của Đ thuê xe ô tô để đưa Đ đi với số tiền 3.000.000 đồng, nhưng hiện tại Đáng không có tiền, nên Đ hỏi mượn S số tiền 3.000.000 đồng”, anh S nói “Không có tiền”. Đáng tiếp tục đóng giả bà X thông qua nick Zalo "Xuân Lâm" nhắn nhiều tin nhắn kêu anh S cho Đ mượn số tiền 3.000.000 đồng và sau này sẽ trả lại cho anh S, nhưng anh S nói “Không có tiền”. Sau đó, Đ tiếp tục điện thoại cho anh S hỏi mượn số tiền trên. Do tin là thật, anh S nói “hiện tại không có tiền nhưng có 01 giấy phép lái xe hạng FC”. Lúc này, Đ cho anh S số điện thoại của người tên H1 và kêu anh S mang giấy phép lái xe trên thế chấp cho H1 lấy tiền cho Đ mượn, anh S đồng ý và mang giấy phép lái xe trên thế chấp được số tiền 3.000.000 đồng. Ngày 14-5-2023, anh S đã chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản của Đ. Sau khi nhận được số tiền trên, Đ đã tiêu xài cá nhân hết.
- Lần thứ bảy: Vào khoảng 11 giờ ngày 20-5-2023, Đ điện thoại anh S hỏi mượn tiền 500.000 đồng để tiêu xài cá nhân, anh S nói “Không có tiền”. Đáng tiếp tục đóng giả bà X thông qua nick Zalo "Xuân Lâm" nhắn nhiều tin nhắn kêu anh S cho Đ mượn số tiền 500.000 đồng và sau này sẽ trả lại cho anh S. Do tin là thật, anh S đã chuyển số tiền 490.000 đồng vào tài khoản của Đ. Sau khi nhận được số tiền trên, Đ đã tiêu xài cá nhân hết.
Trong 07 lần thực hiện hành vi phạm tội thì có 06 lần, Đ chiếm đoạt tài sản của người khác, với số tiền từ 2.000.000 đồng trở lên và dùng số tiền chiếm đoạt để làm nguồn sống chính vì Đ không có việc làm và để có tiền tiêu xài cá nhân, nuôi sống bản thân trong thời gian phạm tội từ ngày 29-4-2023 đến ngày 20-5-2023.
* Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 04-3-2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14-11-2023.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phan Văn Đ.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận, bị cáo Phan Văn Đ đã tác động gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Văn S số tiền 35.000.000 đồng và anh Nguyễn Văn S không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Ngoài ra, bản án còn tuyên biện pháp tư pháp và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 05 tháng 3 năm 2024, bị cáo Phan Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày: Xét thấy bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi gian đối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu bản thân, trong đó có 06 lần chiếm đoạt số tiền từ 2.000.000 đồng trở lên; bị cáo có 01 tiền sự, phạm tội thuộc trường hợp nhiều lần, nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên việc cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là chưa có cơ sở vững chắc.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Bị cáo là người có nghề nghiệp ổn định là phụ giúp gia đình cạo mũ cao su (khoảng 08 ha), để lấy tiền công nuôi sống bản thân và nuôi vợ con. Chỉ vì nhất thời xảy ra mâu thuẫn với vợ, có đánh vợ bị chính quyền địa phương xử phạt hành chính. Thấy vậy cha, mẹ giận và đuổi bị cáo ra khỏi nhà, trong thời gian này bị cáo đến sống cùng với người anh họ và cùng đi làm như phụ tưới mì, phun thuốc mì. Do cần tiền tiêu xài ăn chơi nên bị cáo đã nghĩ cách nói dối bạn thân là anh S để mượn tiền. Anh S là người biết rõ hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo, nên dể dàng tin tưởng bị cáo và chuyển tiền cho bị cáo mượn tiêu xài cá nhân. Sau khi ông nội bị cáo chết ngày 11-7-2023 bị cáo trở về gia đình để tang và không đi nữa, từ đó đến khi bị bắt bị cáo được gia đình giao cho 05 Ha cao su để khai thác. Việc gian dối để chiếm doạt tiền của anh S chỉ để tiêu xài ăn chơi cùng bạn bè, không phải dùng làm nguồn sống chính. Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo với tình tiết định khung phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo điểm b khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là không chính xác. Bị cáo Đ chỉ phạm tội theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và người bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ mà xử bị cáo từ 09 tháng đến 12 thàng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Khoảng tháng 3 năm 2023, do buồn chuyện gia đình nên Phan Văn Đ bỏ nhà đi sống lang thang, không nghề nghiệp ổn định. Từ ngày 13-3-2023 đến trước ngày 29-4-2023, Đ nhiều lần mượn tiền của anh S để tiêu xài cá nhân với số tiền mỗi lần mượn từ 400.000 đồng đến 1.500.000 đồng, tổng cộng 2.900.000 đồng nhưng không trả nên anh S không cho mượn nữa. Sau đó, trong khoảng thời gian từ ngày 29-4-2023 đến ngày 20-5-2023, Đ dùng hành vi gian dối sử dụng mạng xã hội tạo các nick Zalo đóng giả người thân trong gia đình của mình nhắn tin cho anh S, tác động để anh S chuyển tiền cho Đ mượn tổng cộng 07 lần, với số tiền 27.990.000 đồng rồi chiếm đoạt tiêu xài cá nhân. Trong 07 lần thực hiện hành vi phạm tội thì có 06 lần, Đ chiếm đoạt tài sản của người khác, với số tiền từ 2.000.000 đồng trở lên. Tuy nhiên bị cáo lừa dối anh S mượn tiền để tiêu xài cá nhân, không phải lấy số tiền mượn của anh S làm nguốn sống chính, bởi trong thời gian rời khỏi gia đình bị cáo có việc làm và sống cùng người anh họ. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo dùng số tiền chiếm đoạt để làm nguồn sống chính nuôi sống bản thân, trong thời gian phạm tội từ ngày 29-4-2023 đến ngày 20-5-2023. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là chưa chính xác. Bởi vì bị cáo có nghề nghiệp ổn định (Làm rẫy cùng với gia đình), chỉ nhất thời bị cha mẹ giận đuổi đi, để có tiền tiêu xài ăn chơi cùng bạn bè nên nghĩ cách nói dối bạn thân để mượn tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo chỉ phạm tội thuộc khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
[3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu chính đáng của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Văn Đ, Hội đồng xét xử, thấy rằng:
Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân bị cáo có 01 tiền sự, vào ngày 13-3-2023 bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Tổ chức, thuê, xúi giục, lôi kéo dụ dỗ, kích động người khác cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác hoặc xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, đã nộp phạt ngày 29-01-2024 nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại; bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đ 02 năm tù, là có phần nghiêm khắc. Nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về phần hình phạt là chưa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, nên không chấp nhận đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn Đ; không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên; sửa bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn Đ;
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14-11-2023.
2. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phan Văn Đ không phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Diệp |
Bản án số 51/2024/HS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 51/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo CĐTS
