TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/DS-ST Ngày: 10-7-2024 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Ngân;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tạ Huyền Thanh;
Ông Nguyễn Quốc Thống.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 219/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ông Phương Chí H, sinh năm 1989 (xin vắng).
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1998 (tên gọi khác Ngọc N, vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Phương Chí H trình bày:
Năm 2023, bà Nguyễn Thị D làm chủ hụi, có mở nhiều dây hụi online, ông H tham gia nhiều dây hụi do bà D làm chủ hụi, loại hụi có lãi, chủ hụi được hưởng hoa hồng, cụ thể:
- Dây hụi tuần 500.000 đồng (tuần khui 01 lần) được khui vào ngày 07/6/2023 (dương lịch), tổng dây hụi này là 20 phần hụi. Trong đó, ông H tham gia 02 phần hụi. Ông H đóng được 17 kỳ với số tiền là 17.000.000 đồng, đối với 02 phần hụi này bà D có viết biên nhận nợ và đã trả tiền xong cho ông H.
- Dây hụi tuần 300.000 đồng (tuần khui 01 lần), được khui vào ngày 07/8/2023 dương lịch, tổng dây hụi này gồm 20 phần hụi. Trong đó, ông H tham gia 02 phần hụi, đóng được 08 kỳ với tổng số tiền là 4.800.000 đồng.
- Dây hụi ngày 100.000 đồng (khui mỗi ngày), được khui vào ngày 10/9/2023 dương lịch, tổng dây hụi này gồm 30 phần hụi. Trong đó, ông H tham gia 03 phần hụi, đóng được 21 kỳ với tổng số tiền là 6.300.000 đồng.
- Dây hụi ngày 200.000 đồng (khui mỗi ngày), được khui vào ngày 11/9/2023 dương lịch, tổng dây hụi này gồm 30 phần hụi. Trong đó, ông H tham gia 01 phần hụi, đóng được 21 kỳ với tổng số tiền là 2.200.000 đồng.
Việc đóng hụi cho bà D bằng hình thức chuyển khoản. Ông H dùng số tài khoản cá nhân 19038203246011 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần K (T2) chi nhánh C để chuyển khoản tiền hụi vào tài khoản bà D 070108404610 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Ngày 01/10/2023 bà D tuyên bố đình hụi đối với tất cả các dây hụi mà không có lý do chính đáng.
Nay ông H yêu cầu bà Nguyễn Thị D trả cho ông số tiền hụi còn nợ ở 03 dây hụi là 13.300.000 đồng. Ngoài ra, ông không yêu cầu gì khác.
* Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị D: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà bà D không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông H. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng bà D vẫn không tham gia.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật nên không có kiến nghị.
- Về nội dung: Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phương Chí H. Buộc bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ thanh toán số tiền hụi còn nợ cho ông Phương Chí H là 13.300.000 đồng; Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị đơn bà Nguyễn Thị D phải chịu 665.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Phương Chí H có đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị D trả tổng số tiền hụi còn nợ là 13.300.000 đồng, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hụi.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn ông Phương Chí H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị D vắng mặt xét xử lần 2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phương Chí H yêu cầu bà Nguyễn Thị D thanh toán số tiền hụi còn nợ là 13.300.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, chứng cứ ông H cung cấp cho Tòa án là các tin nhắn Zalo giữa ông H với bà D (tên gọi khác Ngọc N), danh sách hụi và bản sao kê Ngân hàng thể hiện các lần ông H chuyển khoản đóng hụi từ số tài khoản cá nhân ông H số 19038203246011 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần K (T2) chi nhánh C chuyển tiền hụi vào tài khoản bà D số [...] mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần S. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh tài khoản ngân hàng G là của bà Nguyễn Thị D được mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) phòng G1 vào ngày 10/9/2019 (bút lục 72).
Mặt khác, việc bà D thiếu nợ tiền hụi ông H có nhiều hụi viên tham gia cùng dây hụi biết như bà Quách Thanh T, bà Văn Yến N1, bà Thạch Bích T1, bà Võ Mỹ N2 (bút lục từ 63 - 65) và có người làm chứng là bà Nguyễn Ngọc H1 biết rõ. Tòa án tiến hành xác minh bà H1, bà H1 xác nhận nội dung: “khi bà Duy đ hụi thì bà D có gặp ông H, bà H1 để đối chiếu nợ, do bà H1 thiếu nợ hụi chết bà D nên bà D yêu cầu bà H1 trả tiền hụi qua cho ông H 13 lần tương đương số tiền 13 triệu đồng. Thỏa thuận cấn trừ nợ không có lập biên bản nhưng sau đó do bà D bỏ địa phương đi nên bà H1 thay đổi thỏa thuận không trả tiền hụi qua cho ông H nữa” (bút lục 74).
Từ những phân tích trên cho thấy việc ông H tham gia hụi của bà D và bà D còn nợ tiền hụi ông H số tiền 13.300.000 đồng là đúng sự thật. Bà D không thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ hụi nên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của hụi viên là ông H. Do đó, Hội đồng xét xử buộc bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phương Chí H số tiền hụi còn nợ là 13.300.000 đồng theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự, Điều 18, Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Kể từ ngày ông Phương Chí H có đơn yêu cầu thi hành án trường hợp bà Nguyễn Thị Duy c thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng bà D còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn bà Nguyễn Thị D chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 665.000 đồng.
Nguyên đơn ông Phương Chí H không phải chịu án phí. Ông Phương Chí H được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.
[4] Ý kiến của kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 471, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18, Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phương Chí H về việc khởi kiện đòi tiền hụi bà Nguyễn Thị D.
- Buộc bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phương Chí H số tiền nợ hụi là 13.300.000 đồng (Mười ba triệu ba trăm nghìn đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thanh toán tại thời điểm thi hành án.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ nộp án phí là 665.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
- Ông Phương Chí H được nhận lại số tiền 338.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0013817 ngày 20/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn.
- “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hồng Ngân |
Bản án số 51/2024/DS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 51/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hụi
