Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 51/2024/DS-ST

Ngày 10/5/2024

V/v: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm :

- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Hoàng Liên Sơn

Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
  • 2/ Ông Lê Văn Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Thủy– Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên Toà:

Ông Trần Hoàng Đ- Kiểm sát viên

Ngày 10/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự, thụ lý số 147/2023/DSST ngày 15 tháng 11 năm 2023, về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXX-DS ngày 28/3/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2024/QÐST-DS ngày 19/4/2024; Giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Dương Văn H- Sinh 1953;( Có mặt)
  2. Hộ khẩu thường trú: số B ngách F phố M, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội;

  3. Bị đơn: Ông Dương Mạnh D- sinh 1969 ( Vắng mặt)
  4. Hộ khẩu thường trú: số F ngách E phố V( Nay là số 148/34/55 Dương Văn B ), phường V, quận H, Thành phố Hà Nội;

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  6. 3.1 Bà Bùi Thị Thanh N- Sinh 1971( Vợ ông Dương Mạnh D);

    Hộ khẩu thường trú: tổ D phường V, quận H, Thành phố Hà Nội; Hiện cư trú tại: số F ngách E phố V( Nay là số 148/34/55 Dương Văn B ), phường V, quận H, Thành phố Hà Nội;

    3.2 Bà Nguyễn Thị P- Sinh 1963; ( Vợ ông Dương Văn H);

    Hộ khẩu thường trú: 203, tổ B phường V, quận H, Thành phố Hà Nội; Hiện cư trú tại: 29/624/16 phố M, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội;

NỘI DUNG VỤ ÁN

  1. Tại đơn khởi kiện, B1 tự khai cùng các lời trình bày khác tại Tòa án; nguyên đơn ông Dương Văn Hồng trình bày: tôi và ông Dương Mạnh D là hàng xóm gần nhà. Năm 2019, ông D đến nhà hỏi vay số tiền 700 triệu đồng để làm ăn kinh doanh. Do tin tưởng nhau, nên ông đồng ý cho ông D vay số tiền 700 triệu đồng. Ông và ông D viết giấy vay tiền đề ngày 01/01/2020. Số tiền ông D vay 700 triệu đồng; Thời gian vay 12 tháng; Lãi suất vay 1%/tháng, trả lãi vào ngày 25 hàng tháng.
  2. Thực hiện hợp đồng vay nợ, ông đã giao cho ông D số tiền 700 triệu đồng. 07 tháng đầu, ông D trả lãi đầy đủ. Từ tháng 8/2020, ông D không trả lãi. Đến hạn trả nợ, ông D không trả tiền gốc vay cho ông. Ông đã nhiều lần đến nhà để đòi tiền, nhưng ông D tránh né không trả. Đến nay ông D còn nợ ông số tiền gốc vay 700 triệu đồng và tiền lãi tính từ tháng 8/2020 cho đến nay. Ông yêu cầu ông D phải trả nợ toàn bộ số tiền vay+ Lãi suất 1%/tháng tính đến ngày xét xử.

    Số tiền ông cho ông D vay là tiền riêng của ông. Vợ ông là bà Nguyễn Thị P không liên quan gì đến số tiền ông cho ông D vay, bà P không tham gia thỏa thuận cùng ông khi cho ông D vay tiền. Khi ông và ông D thỏa thuận vay tiền, chỉ có ông và ông D, không có bà P và cũng không có mặt vợ ông Dbà Bùi Thị Thanh N. Vì vậy, ông chỉ khởi kiện một mình ông D.

  3. Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Bị đơn là ông Dương Mạnh D không đến Tòa án để trình bày ý kiến, giao nộp tài liệu chứng cứ.
  4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị Thanh N( Vợ ông Dương Mạnh D) không đến Tòa án theo thông báo của Tòa án để trình bày ý kiến, giao nộp tài liệu, chứng cứ.
  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị P( vợ ông Dương Văn H) trình bày: bà là vợ ông Dương Văn H. Số tiền ông H cho ông D vay là tài sản riêng của ông H, bà không tham gia quá trình thỏa thuận vay nợ giữa ông H với ông D, nên bà không biết sự việc. Vì vậy, đề nghị Tòa án không triệu tập bà đến phiên tòa, bà xin vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa xét xử việc vay nợ giữa ông H với ông D.

Tại phiên tòa:

  1. Nguyên đơn là ông Dương Văn H: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, căn cứ Giấy vay tiền đề ngày 01/01/2020 ký kết giữa ông với ông D, đề nghị Tòa án buộc ông D phải trả toàn bộ khoan tiền gốc vay 700triệu đồng + Lãi suất 1%/tháng tính trên số nợ gốc từ ngày 01/8/2020 đến ngày xét xử.

Ông H xác nhận khoản tiền cho ông D vay là của cá nhân ông, điều này đã được vợ ông ( bà P) xác nhận với Tòa án.

Ông xác nhận khi cho vay tiền chỉ có mình ông D, vợ ông D không tham gia vay tiền ông, nên ông khởi kiện ông D, không phải khởi kiện vợ chồng ông D. Đây là khoản nợ riêng của ông D.

  1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; đưa ra quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật:

  • Việc thụ lý vụ án tranh chấp Hợp đồng vay tài sản là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm h khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xác định đúng người tham gia tố tụng; Thời hạn xét xử đúng thời hạn quy định.
  • Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự tố tụng trong quá trình thụ lý vụ án, điều tra xác minh, giao thông báo của Tòa án cho các đương sự. Tài liệu điều tra đã đầy đủ.
  • Quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chấp hành các thông báo của Tòa án. Bị đơn không đến Tòa án theo các thông báo của Tòa án.
  • Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề xuất hướng giải quyết vụ án:

Căn cứ tài liệu Giấy vay tiền đề ngày 01/01/2020 (có chữ ký của bên vay tiền là Dương Mạnh D, bên cho vay là Dương Văn H):

Giấy vay tiền có nội dung: ông Dương Văn H cho ông Dương Mạnh D vay số tiền 700 triệu đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất vay 1%/năm, trả lãi hàng tháng. Phía sau Giấy vay tiền có nội dung những lần ông D trả lãi( Có chữ ký của ông D). Tài liệu do ông H nộp có nội dung chứng minh ông D đã nhận số tiền vay và trả lãi hàng tháng theo thỏa thuận.

Giấy vay tiền có nội dung và hình thức phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên. Đến hạn trả nợ, ông D không trả tiền nợ gốc, nợ lãi theo thỏa thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 ông Dương Văn H khởi kiện đòi nợ ông Dương Mạnh D là có căn cứ chấp nhận. Buộc ông Dương Mạnh D phải trả ông Dương Văn H số tiền nợ gốc 700 triệu đồng.

Về lãi suất: buộc ông D phải trả ông H tiền lãi 1%/tháng tính trên nợ gốc, tính từ ngày 01/8/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là 342.000.000đ.

Tổng số tiền ông D phải trả ông H là 1.042.000.000đ( Một tỷ không trăm bốn mươi hai triệu đồng).

Về án phí: các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]Về tố tụng:

[1.1]Ông Dương Văn H khởi kiện ông Dương Mạnh D phải có nghĩa vụ nợ theo giấy vay tiền đề ngày 01/01/2020 . Ông Dương Mạnh D hiện đang cư trú tại quận H, Hà Nội. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39, điểm h khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự: đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng.

[1.2]Về người tham gia tố tụng: tài liệu xác minh tại Công an phường V, lời khai của đương sự thể hiện: ông Dương Văn H có vợ là bà Nguyễn Thị P. Ông Dương Mạnh D có vợ là bà Bùi Thị Thanh N. Số tiền vay và cho vay liên quan đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, nên đưa bà Nguyễn Thị Pbà Bùi Thị Thanh N vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thông báo của Tòa án cho ông Dương Mạnh D và vợ là bà Bùi Thị Thanh N, nhưng ông D, bà N không đến Tòa án trình bày ý kiến giao nộp tài liệu, chứng cứ. Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện vợ chồng ông D đang cư trú tại địa chỉ số S ngách E phố V( Nay là số 148/34/55 Dương Văn B ), phường V, quận H, Thành phố Hà Nội. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu có trong hồ sơ do Nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.

[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, ông Dương Văn H khẳng định tiền cho vay là của cá nhân ông, vợ ông là bà Nguyễn Thị P cũng xác nhận tiền ông H cho ông D vay là tiền riêng của ông H, không phải là tài sản chung.

Ông Dương Văn H khẳng định ông cho mình ông D vay tiền, không phải cho vợ chồng ông D vay tiền, nên ông không yêu cầu vợ ông Dbà Bùi Thị Thanh N có nghĩa vụ trả nợ.

[2.2] Xét Giấy vay tiền đề ngày 01/01/2020 (có chữ ký của bên vay tiền là Dương Mạnh D, bên cho vay là Dương Văn H):

Giấy vay tiền có nội dung: ông Dương Văn H cho ông Dương Mạnh D vay số tiền 700 triệu đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất vay 1%/năm, trả lãi hàng tháng. Phía sau Giấy vay tiền có nội dung những lần ông D trả lãi( Có chữ ký của ông D).

Tài liệu do ông H nộp có nội dung chứng minh ông D đã nhận số tiền vay và trả lãi hàng tháng theo thỏa thuận.

Giấy vay tiền có nội dung và hình thức phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên. Đến hạn trả nợ, ông D không trả tiền nợ gốc, nợ lãi theo thỏa thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 ông Dương Văn H khởi kiện đòi nợ ông Dương Mạnh D là có căn cứ chấp nhận. Buộc ông Dương Mạnh D phải trả ông Dương Văn H số tiền nợ gốc 700 triệu đồng.

[2.3] Về lãi suất cho vay: Giấy vay nợ có nội dung hai bên thỏa thuận lãi suất vay 1%/tháng. Mức lãi suất cho vay phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, nên yêu cầu của ông H về việc buộc ông D phải trả tiền lãi theo thỏa thuân, tính đến ngày xét xử được chấp nhận.

[2.4] Xác định thời hạn chậm trả và số tiền lãi suất chậm trả: Căn cứ tài liệu do ông H xuất trình xác định ông D ngừng trả lãi cho ông H từ 01/8/2020. Nên thời gian chậm trả lãi từ 01/8/2020 đến 01/01/2021 tính lãi trong hạn 1%/tháng. Thời hạn chậm trả gốc và tính lãi chậm trả được tính từ ngày 02/01/2021 cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015: lãi trên nợ gốc quá hạn trả trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng. Lãi quá hạn là 1%x 150%= 1,5%/tháng.

Cụ thể số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, ông Dương Mạnh D phải trả lãi cho ông Dương Văn H là:

Tiền lãi trong hạn: (700.000.000₫ x 1%/tháng) x 05 tháng= 35.000.000₫( Ba mươi lăm triệu đồng).

Tiền lãi quá hạn: (700.000.000₫ x 1,5%/tháng)x 40 tháng 08 ngày= 420.000.000đ( Bốn trăm hai mươi triệu đồng).

Tổng số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn ông Dương Văn D1 có nghĩa vụ trả cho ông Dương Văn H là: 455.000.0000đ( Bốn trăm năm mươi lăm triệu đồng).

[2.5]Tổng số tiền gốc và lãi ông Dương Mạnh D có nghĩa vụ trả cho ông Dương Văn H là: 700.000.000đ + 455.000.0000đ= 1.155.000.000đ (Một tỷ một trăm năm mươi lăm triệu đồng).

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP: kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng 12%/năm.

[3]Về án phí: yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H được chấp nhận, nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Dương Văn H thuộc trường hợp

được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, nên không xử lý về án phí đối với ông H.

Ông Dương Mạnh D phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; điểm d khoản 1.4 Điều 1 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Cụ thể là:

36.000.000đ+ 3% x 355.000.000₫ = 46.650.000đ(Bốn mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 463; điểm a khoản 5 Điều 466; khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; điểm d khoản 1.4 Điều 1 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H, về việc buộc ông Dương Mạnh D phải trả khoản tiền vay theo Giấy vay tiền đề ngày 01/01/2020.
    1. Buộc ông Dương Mạnh D phải trả ông Dương Văn H số tiền gốc vay 700.000.000₫( Bảy trăm triệu đồng).
    2. Buộc ông Dương Mạnh D phải trả ông Dương Văn H số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn quá hạn tính trên nợ gốc đến ngày xét xử là: 455.000.0000đ (Bốn trăm năm mươi lăm triệu đồng).
    3. Tổng số tiền gốc và lãi ông Dương Mạnh D phải trả ông Dương Văn H là 1.155.000.000đ (Một tỷ một trăm năm mươi lăm triệu đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng 12%/năm.

  2. Về án phí: Ông Dương Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Dương Mạnh D phải chịu 46.650.000đ(Bốn mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Ông Dương Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ông Dương Mạnh D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q. Hai Bà Trưng;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Hoàng Liên Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 51/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Dương Văn H cho ông Dương Mạnh D vay 700 triệu dồng, đến hạn không trả, nên ông D khởi kiện.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger