Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày: 09-07-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thu Phương;

Ông Trần Văn Trang.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh- Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 28tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn C, sinh ngày 4/6/1984, nơi cư trú: Tổ E, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; bị cáo có Phạm Thị N và có 03 con, con lớn sinh năm 2010 và con nhỏ sinh năm 2021; tiền án: tiền sự không:

Nhân thân:

Ngày 22/3/2006, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội “trộm cắp tài sản”.

Ngày 17/5/2007, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 1 năm 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội “trộm cắp tài sản”.

Ngày 21/7/2018, bị Công an huyện X xử phạt hành chính về hành vi “cố ý gây thương tích”.

Ngày 14/3/2019, bị Công an huyện H xử phạt hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Ngày 16/12/2019, bị Công an tỉnh N xử phạt hành chính về hành vi “tàng trữ pháo trái phép”.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp,tạm giữ từ ngày 28/02/2024 đến ngày 08/3/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh N. Tại phiên toà bị cáo có mặt.

  1. Trần Văn T, sinh ngày 01/9/1981, nơi đăng ký hộ khẩu: Xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; hiện ở: Tổ E, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu C2 và bà Trần Thị Đ; bị cáo có Lại Thị Thu H và có 02 con, con lớn sinh năm 2007 và con nhỏ sinh năm 2014; tiền án: tiền sự không. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngà 27/02/204 đến ngày 07/3/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên toà bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lã Thị Thu H1, sinh năm 1985, nơi đăng ký hộ khẩu: Xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; hiện ở: Tổ E, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định

-Người làm chứng:

  1. Anh Mai Văn Đ1; vắng mặt
  2. Anh Phạm Văn B1; vắng mặt

-Người chứng kiến:

  1. Anh Hoàng Văn D; vắng mặt.
  2. Chị Phạm Thị N; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn C, sinh năm: 1984, nơi cư trú: tổ E, thị trấn X là người không có việc làm ổn định. Để có thu nhập C đã có hành vi: “Mua bán trái phép chất ma túy” tại nhà ở của mình. Ngày 27/2/2024, C đã 02 lần thực hiện hành vi: “Mua bán trái phép chất ma túy” cho Trần Văn T, sinh năm: 1981, trú tại: Tổ E, thị trấn X và Mai Văn Đ1, sinh năm: 1983, trú tại: xóm F, xã X, cụ thể như sau:

* Vụ thứ nhất: Nguyễn Văn CTrần Văn T là bạn xã hội của nhau, khoảng 08 giờ 37 phút ngày 27/02/2024, C sử dụng số điện thoại 0944.865.xxx gọi cho T vào số điện thoại 0947.685.xxx nhưng T không nghe máy. Đến khoảng 9 giờ 37 phút, T gọi lại cho C, C nói với T có mua ma túy thì đến lấy. Sau đó, T đi từ chỗ ở của mình thuộc tổ E, thị trấn X đến nơi ở riêng của C tại tổ E, TT. X. Đến nơi, T gặp C tại phòng khách, cả hai ngồi chơi, nói chuyện đến 11 giờ 10 phút cùng ngày, T hỏi mua của C 300.000 đồng ma túy Heroine. C đồng

ý, nhận tiền của T rồi đi vào trong phòng ngủ lấy 01 gói nhỏ, bên ngoài gói bằng 02 lớp giấy bạc, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng đưa cho T. Thập nhận, kiểm tra xác định bên trong là ma túy Heroine nên cất giấu vào “tất” đi ở chân phải sau đó đi bộ ra về.

Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ tại khu vực tổ E, thị trấn X thì gặp Tổ công tác Công an huyện X làm nhiệm vụ, phát hiện thấy T có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu kiểm tra. Thập tự giác giao nộp 01 gói nhỏ Heroine vừa mua. Tổ công tác đã mời người chứng kiến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 01 gói nhỏ Thập nộp, ký hiệu M và 01 điện thoại di động hiệu iphone gắn thẻ sim: 0947.685.xxx cùng số tiền 600.000 đồng. (Bl: 134-136)

* Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/02/2024, Mai Văn Đ1 đi bộ ra khu vực cầu L để thuê xe ôm đến nhà Nguyễn Văn C mua ma túy H2 sử dụng. Khi đến chân cầu Đ gặp và thuê Phạm Văn B2, sinh năm: 1985, nơi cư trú: xóm C, xã X, huyện X chở Đ1 đến khu vực tổ E, TT. X, huyện X (Đ1 không nói cho B2 biết đi đâu, làm gì). Sau đó, Đ1 ngồi sau chỉ đường. Khoảng 19 giờ cùng ngày, thì đến nhà C, Đ1 bảo Ban dừng xe đứng đợi, còn Đ1 đi đến cửa sổ phía Đông phòng ngủ gọi: “Chuân ơi, tôi Đích đây, ông để cho tôi cái hai trăm”, ý hỏi mua ma túy của C với số tiền 200.000đồng. Chuân đi về phía cửa sổ, cả hai nhìn thấy nhau, C nhận tiền và đưa lại cho Đích 01 gói nhỏ, bên ngoài gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng qua ô cửa sổ. Đích nhận gói nhỏ, kiểm tra xác định là ma túy Heroine cầm ở tay phải và lên xe B2 chở về.

Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an huyện X làm nhiệm vụ tại khu vực tổ E, thị trấn X phát hiện Đ1 và B2 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Đích giao nộp 01 gói nhỏ ma túy vừa mua được của C. Tổ công tác đã mời người chứng kiến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 01 gói nhỏ Đích nộp, niêm phong, ký hiệu M1. (Bl: 188-190)

Ngày 27/2/2024, Cơ quan điều tra C3 khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn T, Mai Văn Đ1, không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Căn cứ lời khai của Trần Văn TMai Văn Đ1, ngày 27/2/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện X ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn C. Quá trình bắt và khám xét Cơ quan điều tra thu giữ:

- 01 điện thoại di động “OPPO” bên trong gắn thẻ sim số 0944.865.144

- Tại nơi ở riêng của C:

+ Tại vị trí ngăn tủ quần áo kê sát tường phía Bắc trong phòng ngủ phía Đông:

  • 1 (một) lọ nhựa màu trắng, hình trụ tròn đã qua sử dụng, bên trong chứa 01 (một) túi nilon dạng túi zip màu trắng, kích thước (7x11)cm, bên trong chứa mẫu chất bột dạng cục màu trắng, ký hiệu A1.
  • 01 (một) lọ nhựa hình trụ tròn màu xanh, in dòng chữ: “Doublemint", bên trong đựng 02 (hai) gói nhỏ bên ngoài đều gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, ký hiệu A2.
  • 01 (một) mặt kính hình vuông, dày 0,7mm, kích thước (20x20)cm, bên trên bề mặt có chứa các chất mẫu bột dạng cục màu trắng và 02 dao lam đã qua sử dụng; các mẫu chất bột dạng cục màu trắng sau đó được cho vào 01 túi nilon dạng túi zip màu trắng, kích thước (7x11) cm, ký hiệu A3.
  • 01 (một) túi nilon dạng túi zip, kích thước (7x11)cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, ký hiệu A4.
  • 01 (một) túi nilon dạng túi zip, kích thước (7x11)cm, bên trong chứa 03 đoạn ống nhựa nhỏ dạng ống hút, đều hàn kín hai đầu, kích thước tương đương nhau (0,7x3)cm, gồm 01 đoạn ống nhựa màu trắng sọc đỏ, 01 đoạn ống nhựa màu tím sọc trắng, 01 đoạn ống nhựa màu hồng sọc trắng, bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, ký hiệu A5.
  • 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (2,5x2,5)cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, ký hiệu A6.

+ Tại vị trí nền nhà cạnh cửa sổ phía Đông phát hiện thu giữ 01 (một) cuộn giấy nhôm bọc thực phẩm đã qua sử dụng.

+ Tại vị trí mặt tủ kê tivi trong phòng ngủ: 03 kéo kẹp kim loại màu trắng, 01 kéo cắt có lưỡi bằng kim loại, tay cầm màu đen, tất cả đã qua sử dụng.

+ Tại vị trí mặt bàn nhựa kê cạnh cửa sổ phía Nam trong phòng ngủ: 01 lọ nhựa hình trụ tròn bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc màu trắng, kích thước không đồng nhất, đã cắt sẵn.

+ Tại vị trí cửa sổ phía Nam: 01 ví dạng da màu đen bên trong có tổng số tiền là 3.050.000 đồng, trong đó có số tiền 500.000 đồng C khai nhận là tiền bán trái phép chất ma túy cho T, Đ1 mà có.

- Tại nơi ở của vợ C (mẹ đẻ, vợ và các con):

+ Tại vị trí ngăn tủ quần áo kê sát tường và két sắt phía Tây phòng ngủ vợ chồng C phát hiện thu giữ tổng số tiền 124.000.000 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng, ký hiệu A7, 01 đôi bông tai mặt đá màu xanh, bọc kim loại màu vàng, ký hiệu A8.

Ngày 27/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy:

Tại bản kết luận giám định số: 526/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 02 lớp giấy bạc màu trắng niêm phong ký hiệu M (thu giữ của Trần Văn T) là ma túy; loại ma túy: Heroine; khối lượng là: 0,551gam.

Tại bản kết luận giám định số: 528/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 01 lớp giấy bạc màu trắng niêm phong ký hiệu M1 (Thu giữ của Mai Văn Đ1) là ma túy; loại ma túy: Heroine; khối lượng là: 0,042gam.

Ngày 01/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X ra Quyết định trưng cầu giám định số 202 trưng cầu giám định chất ma túy trong các phong bì niêm phong ký hiệu lần lượt từ A1 đến A6.

Tại bản kết luận giám định số 541/GĐKTHS ngày 05/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong trong các phong bì niêm phong ký hiệu lần lượt từ A1, A2, A3 đều là ma túy. Loại ma túy Heroine. Khối lượng mẫu A1: 15,861 gam; A2: 0,141 gam; A3: 0,452 gam.

Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong các phong bì thư được niêm phong ký hiệu A4, A5, A6 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy Methamphetamine. Khối lượng mẫu A4: 2,806 gam; A5: 0,925 gam; A6: 0,590 gam.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn C, Trần Văn T, Mai Văn Đ1 đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như trên. Ngoài ra, Nguyễn Văn C còn khai nhận nguồn gốc số H2 và M cất giấu tại nơi ở của mình nhằm mục đích để bán kiếm lời, như sau.

Ngày 26/2/2024, C đi xuống khu vực chợ xã G, huyện G, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông không quan biết, không rõ tên tuổi địa chỉ 8.000.000 đồng H2 và 1.600.000 đồng ma túy đá. Sau khi mua được C mang về nhà dùng kéo, dao lam cắt, chia nhỏ và gói lại thành các phần khác nhau, gói vào 4 mảnh giấy bạc đã có sẵn, trong đó có 02 gói bán cho T và Đ1, còn 02 gói Chuân để trong lọ nhựa màu xanh để trong tủ quần áo, phần còn lại để sẵn ở mặt tấm kính và trong túi zip. Số Methamphetamine Chuân chia nhỏ thành 3 phần rồi dồn vào ống nhựa dạng ống hút mục đích nếu ai hỏi mua thì bán. Đối với số ma túy Chuân bán cho Trần Văn T, C khai do có tình cảm với T nên đã thêm ma túy vào cho T.

Đối với số tiền 124.000.000 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng, 01 đôi bông tai mặt đá màu xanh, bọc kim loại màu vàng thu tại nơi ở của vợ C là chị

Phạm Thị N. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện đã trả lại tài sản trên cho chị N.

Cáo trạng số 48/CT-VKSXT ngày 06/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố Nguyễn Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý) theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 294 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b, p khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C.

Về tội danh, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 7-10 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T.

Về tội danh, tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tang trữ trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung; Hoành cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 526/KL-KTHS ngày 01/3/2024; 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 528/KL-KTHS ngày 28/02/2024; 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giam định số 541/GĐKTHS ngày 05/3/2024 đều của Phòng K Công an tỉnh N; 01 lọ nhựa màu trăng; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 lọ nhựa hình trụ; 01 mặt kính hình vuông; 02 lưỡi dao lam; 01 cuộn giấy nhôm; 03 kéo kẹp; 01 kéo cắt kim loại; 01 túi nilong màu trắng; 01 ví giả da;

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện OPPO cùng thể sim số 0944.865.144 và 500.000đ của bị cáo C và 01 chiếc điện thoại Iphone của bị cáo T sung ngân sách nhà nước.

Trả lại cho chị Lại Thị Thu H số sim điện thoại: 0947.685.xxx. (Không liên quan đến việc phạm tội).

Trả lại số tiền 2.550.000đ cho bị cáo Nguyễn Văn C và 600.000đ cho bị cáo T nhưng tiếp tục lưu giữ lại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường để đảm bảo cho việc thi hành án.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số Heroine thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Trong thời gian từ 11 giờ đến 19 giờ 30 phút ngày 27/2/2024, tại nơi ở riêng của mình thuộc khu vực tổ E, thị trấn X, huyện X, Nguyễn Văn C có hành vi bán trái phép 0,551 gam Heroine cho Trần Văn T lấy 300.000 đồng và bán trái phép 0,041 gam Heroine cho Mai Văn Đ1 lấy 200.000 đồng và để Trần Văn TMai Văn Đ1 sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, Nguyễn Văn C còn tàng trữ 16,454 gam Heroine và 4,321 gam ma túy Methamphetamine tổng khối lượng chất ma túy phải chịu trách nhiệm hình sự là 21,368 gam (trong đó: Heroine: 17,047 gam; Methamphetamine: 4,321 gam). Vì vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sư; Trần Văn T cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 294 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố các bị cáo ra phiên toà là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện. Tính nguy hiểm của hành vi còn thể hiện ở chỗ: Tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, nó không chỉ huỷ hoại sức khoẻ của người nghiện mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng; là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội; bị cáo C nhận thức được việc bán ma tuý là tác hại là gieo rắc hành vi tiếp tay cho việc sử dụng ma tuý song vì mục đích kiếm lời mà bị cáo bất chấp. Bị cáo C đã từng bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” song bị cáo không lấy đó để làm bài học cho bản thân mà tiếp tục vi phạm pháp luật, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật. Đối với bị cáo T nhận thức tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân nó tác hại cho chính mình xong vẫn cố tình. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật thì mới tác dụng đấu tranh chanh phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo C bị truy tố theo tình tiết định khung. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội, có như vậy mới tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội,

[6] Về hình phạt bổ sung: Để đảm báo tính nghiêm minh của pháp luật, xét thấy cần phải phạt bổ sung đối với bị cáo C như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Đối với bị cáo T hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là người nghiện ma tuý nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Số ma tuý đã thu giữ của các bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 lọ nhựa màu trắng; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 lọ nhựa hình trụ; 01 mặt kính hình vuông; 02 lưỡi dao lam; 01 cuộn giấy nhôm; 03 kéo kẹp; 01 kéo cắt kim loại; 01 túi nilong màu trắng; 01 ví giả da không còn giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện OPPO cùng thể sim số 0944.865.144 và 500.000₫ thu giữ của bị cáo C và 01 chiếc điện thoại Iphone của bị cáo T. Xét thấy các bị cáo dùng điện thoại để liên mua bán ma tuý đây là công cụ, phương tiên phạm tội cũng như số tiền bị cáo C bán ma tuý cho T, cho Đ1 mà có, đây là số tiền thu lời bất chính nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 600.000 thu giữ của bị cáo T và số tiền 2.550.000 thu giữ của bị cáo C, số tiền này của các bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên HĐXX sẽ trả lại cho các bị cáo nhưng số tiền này tiếp tục lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với số tiền 124.000.000 đồng; 01 nhẫn kim loại màu vàng, 01 đôi bông tai mặt đá màu xanh, bọc kim loại màu vàng thu tại nơi ở của vợ C là chị Phạm Thị N. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo C, Cơ quan điều tra Công an huyện đã trả lại tài sản trên cho chị N là phù hợp.

[8] Đối với Mai Văn Đ1 có hành vi tàng trữ 0,042 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Xét hành vi không cấu thành tội phạm cơ quan Công an huyện X quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ1 là phù hợp.

[9] Đối với người nam thanh niên đã bán H2 và M1 cho Nguyễn Văn C, do C không biết tên, tuổi, địa chỉ, ngoài ra không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan CSĐT Công an huyện X không có căn cứ để xử lý.

[10] Đối với anh Phạm Văn B2, sinh năm: 1985, nơi cư trú: xóm C, xã X, huyện X là người đi xe ôm, chở Mai Văn Đ1 đến nhà C mua Heroine, do Đ1 không nói cụ thể đi làm gì, anh B2 không biết việc Đ1 đi mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan CSĐT Công an huyện X không đặt ra vấn đề xử lý là phù hợp.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b, p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/2/2024.

- Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn C 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái pháp chất ma tuý).

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/2/2024.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 526/KL-KTHS ngày 01/3/2024; 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 528/KL-KTHS ngày 28/02/2024; 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 541/GĐKTHS ngày 05/3/2024 đều của Phòng K Công an tỉnh N; 01 lọ nhựa màu trăng; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 lọ nhựa hình trụ; 01 mặt kính hình vuông; 02 lưỡi dao lam; 01 cuộn giấy nhôm; 03 kéo kẹp; 01 kéo cắt kim loại; 01 túi nilong màu trắng; 01 ví giả da;

Tịch sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện OPPO cùng thể sim 0944.865.144 và 500.000đ của bị cáo C và 01 chiếc điện thoại Iphone của bị cáo T sung ngân sách nhà nước.

Trả lại cho chị Lại Thị Thu H 01 sim điện thoại 0947.685.xxx.

Trả lại số tiền 2.550.000 cho bị cáo Nguyễn Văn C và 600.000đ cho bị cáo Trần Văn T nhưng tiếp tục lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 70/CCTHA ngày 11/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C và bị cáo Trần Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn C, bị cáo Trần Văn T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Xuân Trường;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Trường;
  • - Công an huyện Xuân Trường;
  • - UBND xã Liêm Hải;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger