Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/DS-ST

Ngày: 08/5/2024

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Khang;

Ông Nguyễn Xuân Lưu;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 138/2023/TLST–DS ngày 27 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXX-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QÐST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V2); Trụ sở: Số A P, phường B, Quận A, TP Hồ Chí Minh; Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng Giám đốc; Người nhận uỷ quyền lại: Bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Bích N, bà Hoàng Thị H – Chức vụ: Chuyên viên; Địa chỉ: Tầng D, Tòa nhà C, số D T, quận Đ, Hà Nội. (Giấy uỷ quyền số 089029.24 ngày 07/5/2024) (Bà N có mặt, bà Y, bà H vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Phan Tiến H1, sinh năm 1994 và chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 2001; Cùng trú tại: Thôn F, xã C, huyện H, thành phố Hà Nội. (Anh H1, chị H2 vắng mặt).

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thiên K, sinh năm 1976, trú tại: Xóm G, xã D, huyện H, Hà Nội;

Cháu Nguyễn Thiên H3, sinh ngày 08/5/2006 và Nguyễn Thị Phương V1, sinh ngày 01/12/2009 do ông K là đại diện. (Ông K vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện ngày 22/5/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP Q và anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2 đã tự nguyện ký kết Hợp đồng tín dụng số 2804532.22 ngày 07/4/2022, Khế ước nhận nợ số 2804532(1).22 ngày 07/4/2022, nợ gốc là 770.000.000 đồng, mục đích vay là nhận chuyển nhượng bất động sản tại xóm G, xã D, huyện H, Hà Nội, thời hạn vay là 180 tháng, từ ngày 08/4/2022 đến 07/4/2037, lãi suất vay: tại thời điểm giải ngân là 9,50%/năm, đây là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong thời hạn 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn nói trên lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3.9%/năm. Ngày 07/4/2022 V2 đã giải ngân số tiền trên cho anh H1, chị H2 theo Khế ước nhận nợ số 2804532(1).22.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1/405-4, tờ bản đồ số 3 địa chỉ: xóm G, xã D, huyện H, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 758419, số vào sổ cấp GCN: CS-HDU 40980 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 26/4/2021 cho ông Nguyễn Thiên K. Ngày 09/4/2022 Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện H đã chứng nhận chuyển nhượng sang tên anh Phan Tiến H1 và chị Nguyễn Thị H2 thep Hợp đồng chuyển nhượng số 4121 lập ngày 06/4/2022 tại Văn phòng C. Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 19/4/2022 được công chứng tại Văn phòng C1 và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20/4/2022 tại Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện H.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh H1, chị H2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 05/01/2023 V2 đã chuyển khoản nợ sang quá hạn.

Tạm tính đến ngày 22/5/2023, anh H1, chị H2 còn nợ VIB số tiền là: nợ gốc là 735.776.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 36.961.896 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.467.886 đồng, (trong lãi quá hạn gồm có lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi), tổng cộng là 774.205.782 đồng.

Về số tiền nợ lãi quá hạn là bao gồm lãi quá hạn trên dư nợ gốc chậm trả (Chịu mức lãi suất bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tính trên dư nợ gốc phải thanh toán mà chưa thanh toán) và lãi quá hạn trên dư nợ lãi chậm trả (Chịu mức lãi suất 10%/năm tính trên khoản tiền lãi chậm trả). Căn cứ như sau:

Điều 1.4.6 Phần 1. Các quy định liên quan đến cấp tín dụng tại Hợp đồng tín dụng số 2804532.22 ngày 07/04/2022 mà ông Phan Tiến H1 và bà Nguyễn Thị H2 đã ký kết với V2:

"Bất kỳ khoản tiền dư nợ gốc nào được cấp tín dụng theo Tài liệu vay vốn đến hạn phải thanh toán mà bên được cấp tín dụng chưa thanh toán cho V2 sẽ là nợ quá hạn và chịu mức lãi suất bằng 150% của lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn (không tính theo lãi suất của chương trình ưu đãi/khuyến mãi), và được tính từ ngày khoản tiền dư nợ gốc đó đến hạn phải thành toán cho đến ngày Bên được cấp tín dụng thanh toán đầy đủ khoản tiền dư nợ gốc đó cho V2;

Bất kỳ khoản tiền lãi nào theo Tài liệu vay vốn đến hạn phải thanh toán mà Bên được cấp tín dụng chưa thanh toán cho V2 sẽ chịu mức lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên khoản tiền lãi chậm trả từ ngày khoản tiền lãi đó đến hạn phải thanh toán cho đến ngày Bên được cấp tín dụng thanh toán đầy đủ khoản tiền lãi đó cho VIB;

Bất kỳ khoản tiền phí hoặc các khoản thanh toán nào khác theo tài liệu vay vốn đến hạn phải thanh toán mà Bên được cấp tín dụng chưa thanh toán cho V2 sẽ chịu mức lãi suất chậm trả bằng 150% của lãi suất đang được áp dụng cho Khoản tín dụng có liên quan (không tính theo lãi suất của chương trình ưu đãi/khuyến mãi) hoặc lãi suất theo thông báo của V2 (nếu liên quan đến hoặc phát sinh theo các trường hợp khác quy định tại Tài liệu vay vốn), và được tính từ ngày khoản tiền đó đến hạn phải thanh toán cho đến ngày Bên được cấp tín dụng thanh toán đầy đủ khoản tiền đó cho V2."

Nay ngân hàng yêu cầu: buộc ông H1, bà H2 tiếp tục phải chịu lãi của số tiền nợ gốc, lãi chậm trả lãi kể từ ngày 23/5/2023 cho đến khi anh Phan Tiến H1 và chị Nguyễn Thị H2 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất thoả thuận tại các Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký giữa các bên.

Trong trường hợp anh H1, chị H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên, thì VIB được quyền tự phát mại hoặc đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ cho V2.

Kể từ thời điểm thế chấp, tài sản bảo đảm vẫn giữ nguyên hiện trạng, hiện nay anh K và hai con đang sinh sống trên đất nhưng chủ tài sản vẫn là anh H1, chị H2. Ngân hàng đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn – anh Phan Tiến H1 và chị Nguyễn Thị H2 trình bày:

Về việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và hợp đồng thế chấp như đại diện Ngân hàng trình bày trên là đúng, hiện nay, vợ chồng anh chị còn nợ Ngân hàng số tiền nợ như trên. Vợ chồng anh chị không có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, vợ chồng anh chị xác định có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng T số tiền nợ theo ý kiến của đại diện Ngân hàng vừa trình bày.

Kể từ ngày 23/5/2023, vợ chồng anh chị tiếp tục phải thanh toán cho Ngân hàng nợ lãi, phí phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ.

Tài sản thế chấp là tài sản chung của vợ chồng anh chị. Vợ chồng anh chị đã tự nguyện thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất như đại diện Ngân hàng trình bày.

Tại thời điểm thế chấp, trên thửa đất đã có nhà 02 tầng gồm nhà bê tông tầng 01, nhà khung nhôm lắp ghép tầng 2, nhà xây hết đất. Từ thời điểm thế chấp đến nay tài sản bảo đảm vẫn giữ nguyên hiện trạng, không thay đổi gì. Hiện nay anh chị đang cho anh Nguyễn Thiên K ở nhờ. Cho đến thời điểm này, tài sản thế chấp vẫn giữ nguyên như tại thời điểm thế chấp, tài sản trên đất này thuộc sở hữu, sử dụng của vợ chồng anh chị. Nếu vợ chồng anh chị không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên theo quy định pháp luật.

Hiện nay ông K thường xuyên đi làm, giờ giấc không cố định nên không lên Toà giải quyết, anh chị cũng không gặp được ông K, do vậy, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã thông báo, triệu tập ông Nguyễn Thiên K lên Tòa để lấy lời khai nhưng ông K không có mặt, vì vậy Tòa án không lấy được lời khai của ông K.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên các ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ tạm tính đến 08/5/2024, nợ gốc là 735.776.000 đồng, lãi trong hạn là 54.339.113 đồng, lãi quá hạn là 115.904.831 đồng, lãi chậm trả lãi quá hạn là 5.656.024 đồng, yêu cầu bị đơn tiếp tục trả lãi của nợ gốc, nợ lãi theo lãi suất đã thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã thoả thuận kể từ ngày 09/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Nếu bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, thực hiện đúng quy định về thủ tục lấy lời khai, hòa giải, tiến hành công khai chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác. Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định. Thời hạn xét xử chưa được đảm bảo theo quy định nhưng có lý do khách quan vì vụ án có tính chất phức tạp, phải xác minh, bổ sung tài liệu chứng cứ. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, các đương sự còn chưa chấp hành quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự tố tụng. Việc Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS.

+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký. Chấp nhận yêu cầu kê biên phát mại tài sản bảo đảm của nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đủ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại nhà đất thế chấp để thu hồi nợ. Về án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[I]. Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Ngày 07/4/2022 Ngân hàng TMCP Q và anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2 đã ký kết Hợp đồng tín dụng với mục đích là mua bất động sản tại xóm G, xã D, huyện H, Hà Nội nên xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS) năm 2015.

Tại đơn khởi kiện thể hiện bị đơn cư trú tại thôn F, xã C, huyện H, Hà Nội. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.

1.2. Về việc xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bị đơn không có yêu cầu phản tố trong vụ án là anh Phan Tiến H1 và chị Nguyễn Thị H2 đã được triệu tập hợp lệ, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập trong vụ án là anh Nguyễn Thiên K và hai con là Nguyễn Thiên H3, Nguyễn Thị Phương V1 do anh K là đại diện đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[II]. Về nội dung vụ án:

1. Về hiệu lực của Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ:

Ngân hàng TMCP Q (V2) do ông Hoàng Mạnh Hạ Â – Giám đốc Phòng kinh doanh làm đại diện và anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 2804532.22 ngày 07/4/2022, Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2804532(1).22 ngày 07/4/2022. Việc ký kết Hợp đồng tín dụng và Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ nêu trên là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.

2. Về yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc:

Sau khi ký kết Hợp đồng tín dụng số 2804532.22 ngày 07/4/2022, Ngân hàng V2 đã giải ngân cho anh H1, chị H2 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2804532(1).22 ngày 07/4/2022 với số tiền là: 770.000.000 đồng; Thời hạn vay 180 tháng, từ ngày giải ngân.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh H1, chị H2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 05/01/2023. Tính đến ngày 22/5/2023, anh H1, chị H2 đã trả cho Ngân hàng V2 tổng số tiền là 81.882.468 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 34.224.000 đồng. Hiện, anh H1, chị H2 còn nợ VIB số tiền gốc là 735.776.000 đồng. Số nợ gốc này anh H1, chị H2 xác nhận là đúng, đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

3. Về yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ lãi trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả lãi:

Ngân hàng V2 yêu cầu anh H1, chị H2 trả số tiền nợ lãi của Hợp đồng tín dụng và Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ trên (tạm tính đến ngày 08/5/2024), cụ thể: Nợ lãi trong hạn là: 54.339.113 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 115.904.831 đồng, lãi chậm trả lãi là 5.656.024 đồng.

Anh H1, chị H2 xác nhận số tiền nợ lãi trong hạn và quá hạn, lãi chậm trả lãi như Ngân hàng V2 yêu cầu là đúng và nhất trí với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Xét, tại Điều 2.4 Hợp đồng tín dụng, Điều 1.4.6 Phần 1 của Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng và Điều 2.6 Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2804532(1).22 ngày 07/4/2022 hai bên đã thoả thuận về lãi suất tại thời điểm giải ngân, lãi suất ưu đãi, lãi suất điều chỉnh, lãi chậm trả lãi. Anh H1, chị H2 đã xác nhận số tiền nợ lãi trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả lãi như tại yêu cầu khởi kiện của đúng và xác định có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng V2 số tiền nợ lãi trên. Ngân hàng V2 đã xuất trình các tài liệu chứng minh về lãi suất điều chỉnh qua từng thời kỳ, phù hợp với thoả thuận của hai bên nên yêu cầu của Ngân hàng V2 về số tiền nợ lãi trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả lãi là có cơ sở nên chấp nhận.

Ngân hàng V2 yêu cầu anh H1, chị H2 tiếp tục phải thanh toán khoản lãi phát sinh của số tiền nợ gốc và lãi trên theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký giữa hai bên kể từ ngày 09/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là có căn cứ nên được chấp nhận.

4. Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ:

Anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2 và Ngân hàng V2 – Chi nhánh H5 do bà Nguyễn Thị Thu H4 – Giám đốc Giao dịch tín dụng Tây H kiêm Giám đốc Giao dịch tín dụng Đông Hà N1 là đại diện đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 19/4/2022 được Văn phòng C1 công chứng, số công chứng 1273, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20/4/2022 tại Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện H, để thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1/405-4, tờ bản đồ số 03, đất ở nông thôn, diện tích 46,9m², địa chỉ: Xóm G, xã D, huyện H, Hà Nội, thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 758419, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐU 40980, do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 26/4/2021 đứng tên ông Nguyễn Thiên K, được Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ – Chi nhánh huyện H chứng nhận sang tên cho ông Phan Tiến H1 và vợ là bà Nguyễn Thị H2 ngày 09/4/2022.

Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ tài sản của TAND huyện Hoài Đức thể hiện: trên đất có 01 nhà bê tông tầng 01, nhà khung nhôm lắp ghép tầng 02, công trình xây hết đất. Kể từ thời điểm thế chấp đến nay, hiện trạng nhà đất vẫn giữ nguyên. Hiện đang sinh sống tại tài sản thế chấp có ông Nguyễn Thiên K và hai con là Nguyễn Thiên H3, Nguyễn Thị Phương V1. Sau khi ông K chuyển nhượng, anh H1, chị H2 đã cho ông K ở nhờ.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Thiên K và nhiều lần triệu tập ông K lên Toà để trình bày ý kiến bảo vệ quyền lợi cho mình nhưng ông K không lên, do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét ý kiến của ông K.

Xét, tài sản thế chấp trên thuộc quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2, các bên ký kết Hợp đồng thế chấp trên cơ sở tự nguyện, có nội dung và hình thức phù hợp với các Điều 317, 318, 319 Bộ luật Dân sự năm 2015, điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và các quy định của pháp luật khác có liên quan. Do vậy, xác định Hợp đồng thế chấp trên là có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên, Ngân hàng V2 yêu cầu được quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm trong trường hợp anh H1, chị H2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ là phù hợp nên chấp nhận.

Sau khi phát mại tài sản bảo đảm trên, nếu không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì anh H1, chị H2 tiếp tục phải có nghĩa vụ thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng V2 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

[III]. Về án phí và quyền kháng cáo:

Anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ngân hàng V2 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 71; Điều 72; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 463, 317, 318, 319, 322, 299 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2.

2. Buộc anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2 phải trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ tạm tính đến ngày 08/5/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 2804532.22 ngày 07/4/2022, Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2804532(1).22 ngày 07/4/2022 đã ký giữa hai bên, cụ thể:

  • - Nợ gốc là: 735.776.000 đồng;
  • - Nợ lãi trong hạn là: 54.339.113 đồng;
  • - Nợ lãi quá hạn là: 115.904.831 đồng;
  • - Nợ lãi chậm trả lãi là 5.656.024 đồng
  • - Tổng cộng là: 911.675.968 đồng.

Kể từ ngày 09/5/2024, anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2 còn phải tiếp tục phải trả khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc và lãi chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kết giữa hai bên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q.

3. Về xử lý tài sản bảo đảm: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q về việc đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm khi anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1/405-4, tờ bản đồ số 03, đất ở nông thôn, diện tích 46,9m², địa chỉ: Xóm G, xã D, huyện H, Hà Nội, thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 758419, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐU 40980, do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 26/4/2021 đứng tên ông Nguyễn Thiên K, được Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ – Chi nhánh huyện H chứng nhận sang tên cho anh Phan Tiến H1 và vợ là chị Nguyễn Thị H2 ngày 09/4/2022, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 19/4/2022 được Văn phòng C1 công chứng, số công chứng 1273, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20/4/2022 tại Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện H.

Sau khi phát mại tài sản bảo đảm trên, nếu không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2 tiếp tục phải có nghĩa vụ thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng V2 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 39.350.279 đồng.

Ngân hàng TMCP Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 17.484.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0005449 ngày 27/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt đại diện Ngân hàng TMCP Q, vắng mặt anh Phan Tiến H1, chị Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Thiên K, cháu Nguyễn Thiên H3 và cháu Nguyễn Thị Phương V1 do ông K là đại diện.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND h.Hoài Đức;
  • - TAND TP.Hà Nội;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - Chi cục THADS h.Hoài Đức;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/DS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 51/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng QT - Hoa, Hang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger