Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KẾ SÁCH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HS-ST

Ngày: 07/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Kịch
  2. Bà Tăng Thị Bạch Vân

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Ông Trương Trung Hiếu - Kiểm sát viên

Ngày 07/11/2023, tại phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hữu N; Tên gọi khác: Không có, Giới tính: Nam; sinh ngày 30/10/2004; Nơi sinh: tỉnh Hậu Giang. Nơi cư trú: ấp M, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiện tại: Như trên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Làm vườn; Họ và tên cha: Lê Văn T, sinh năm 1975; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1982 ngụ cùng địa chỉ với bị can; Anh em ruột 02 người: Lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất là bị can; Họ tên vợ: Nguyễn Thị Tú T1, sinh ngày 28/11/2004 ngụ cùng địa chỉ với bị can; Bị can có 01 người con sinh ngày 01/6/2023. Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 02/3/2020 bị Công an thành phố N, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định xử phạt cảnh cáo về hành vi Đánh bạc tại Quyết định số 01 (đã được xoá tiền sự); Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 08/5/2023 và chuyển giam kể từ ngày 11/5/2023 cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1953 (đã chết ngày 01/8/2023).

Người đại diện hợp pháp của bị hại là:

  1. Ông Nguyễn Văn Tám E (xin vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn B(vắng mặt).
  3. Ông Nguyễn K (vắng mặt).
  4. Ông Nguyễn Văn T2 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp K, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp M, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
  2. Ông Lê Văn Nhựt B1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số B đường T, phường A, quận E, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

* Người làm chứng:

  1. Ông Lê Hữu T3, sinh năm 2000 (có mặt).
  2. Địa chỉ: ấp M, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

  3. Ông Võ Văn L, sinh năm 1986 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: ấp K, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Khoảng 09 giờ ngày 23/4/2023 Lê Hữu N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki RGV màu đỏ, trắng có gắn biển số 95P1-2965 từ nhà đi về hướng chợ M thuộc xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng để đi kiếm mật ong. Lúc đầu N chạy bên lộ đal lớn nhưng không thấy ong mật để lấy nên N điều khiển xe lên cầu nhỏ qua sông để chạy ngược lại về hướng chợ M1 Cá. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày trên tuyến đường đang lưu thông N phát hiện bà Nguyễn Thị N1, sinh năm1953 ngụ ấp K, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng đang đi bộ cùng chiều từ hướng xã K đi xã Đ trên cổ có đeo sợi dây chuyền vàng (kiểu hình chữ công, có trọng lượng 2,8 chỉ cùng với mặt dây chuyền bằng đá xanh hình phật) nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt tại sản của bà N1. Nhật quay đầu xe trở lại giả vờ hỏi thăm bà N1 đường đi về thành phố S. Sau đó, N điều khiển xe chạy về hướng xã K một đoạn khoảng 100m (để giả đi theo hướng của bà N1 chỉ), lúc này N quay đầu xe mô tô chạy đến tiếp cận bà N1 để giật lấy sợi dây chuyền của bà N2. Khi gần tới bà N1 thì N cho xe chạy áp sát bà N1 và dùng tay trái giật mạnh sợi dây chuyền của bà N1 đang đeo trên cổ và tăng ga bỏ chạy về hướng chợ M và đi đến Thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Sau khi đến chợ N4 thì N đến tiệm V để bán sợi dây chuyền vừa cướp giật được với số tiền là 4.600.000 đ (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).

Đối với bị hại Nguyễn Thị N1 sau khi bị N cướp giật sợi dây chuyền thì bà N1 truy hô và đuổi theo N một đoạn nhưng không đuổi kịp thì bà N1 quay lại hiện trường tìm thấy mặt dây chuyền bằng đá màu xanh còn rớt lại bà N1 lấy mặt dây chuyền, sau đó đến Công an xã Đ trình báo. Nhận được tin báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K phối hợp với Công an thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xác minh và xác định được Lê Hữu N là người đã thực hiện hành vi Cướp giật tài sản của bà N1 nên mời về làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Lê Hữu N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận giám định số: 3680/KL-KTHS ngày 06/6/2023 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 mặt dây chuyền bằng đá xanh hình phật có khung bằng kim loại màu vàng, tổng khối lượng (cả đá) 1,8716 gam, gửi giám định có thành phần kim loại vàng (Au) 64,25%; Bạc (Ag) 15,40%; Đồng (Cu) 20,35%. Khối lượng khung kim loại vàng 0,6621 gam. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 20/BB ngày 04/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện K kết luận: 01 mặt dây chuyền hình phật bằng đá màu xanh có khung bằng kim loại màu vàng, chiều dài 2,8 cm, khối lượng (cả đá) 1,8716 gam gửi giám định có thành phần kim loại Vàng (Au) 64,25%; Bạc (Ag) 15,40%; Đồng (Cu) 20,35%. Khối lượng khung kim loại vàng 0,6621 gam trị giá 736.255 đồng; Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 26/BB ngày 16/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện K kết luận: Một sợi dây chuyền dạng hình chữ công, trọng lượng 2,8 chỉ vàng cùng loại với mặt dây chuyền đã giám định (Vàng (A) 64,25%) trị giá 11.676.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Lê Hữu N đã chiếm đoạt được của bị hại N1 là 12.412.255 đồng (Mười hai triệu, bốn trăm, mười hai nghìn, hai trăm năm mươi lăm đồng).

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki loại xe RGV 120, màu sơn trắng đỏ, có gắn biển số 95P1-2965 do Lê Hữu N mua thông qua mạng, xe mua có giấy đăng ký xe, còn nguồn gốc xe thì N không biết. Ban đầu có biển số nhưng do thời gian chạy biển số đã rớt mất nên N lấy biển số xe Wave ở nhà gắn vào để chạy, giấy đăng ký xe Nhật đã làm mất. Tại bản kết luận giám định số 168/KLSKSM-KTHS ngày 20/7/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh S bản kết luận: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Suzuki màu sơn đỏ trắng, biển kiểm soát 95P1-2965 có chữ, số: Số khung RU120U2YA-45876 (dưới yên xe) không phải là số nguyên thủy, đã bị cắt hàn vào; số nguyên thủy không đọc được. Số máy F124-145876 không phải là số nguyên thủy; số nguyên thủy không đọc được.

Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ thu được ngày 10/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Hữu N về tội Cướp giật tài sản quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị can Lê Hữu N đã tác động gia đình mua lại sợi dây chuyền bồi thường cho bị hại N1; Bị can đã thành khẩn khai báo; Người đại diện cho bị hại là chị Nguyễn Thị Mộng N3 (bị hại đã chết trong quá trình điều tra vụ án) có làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can N.

Về thu giữ, tạm giữ tài liệu và xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và xử lý như sau: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki loại xe RGV 120, màu sơn trắng đỏ, có gắn biển số 95P1-2965, đã qua sử dụng; Số tiền Việt Nam đồng 3.600.000 đồng và 01 (một) nhẫn trơn bằng kim loại màu vàng, trong cốp xe mô tô Suzuki loại xe RGV 120, màu sơn trắng đỏ, có gắn biển số 95P1-2965; Số tiền Việt Nam đồng 115.000 đồng trong túi quần short phía trước bên trái của N; 01 nón bảo hiểm màu trắng có vành lưỡi trai màu đen, không có nhãn hiệu, loại nón sơn, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu đen bên trái có ghi chữ adidas (chữ màu trắng), tay dài màu trắng có sọc màu đen, loại dây kéo; 01 (một) quần short jean màu đen, xám nhãn hiệu Jean size 31; 01 (một) mặt dây chuyền hình phật bằng đá màu xanh, có khung bằng kim loại màu vàng có tổng chiều dài là 2,8cm (đã trao trả lại cho người đại diện cho bị hại) (bút lụt 167). 01 (một) chai xịt hơi cay NATO màu xanh, đỏ (đã chuyển kèm theo Công văn chuyển xử phạt vi phạm hành chính số 140 đến Công an phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang xem xét xử phạt vi phạm hành chính ngày 03/9/2023)

Về trách nhiệm dân sự: Hiện tại bị can đã tác động gia đình khắc phục xong phần yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bà N1, nên người đại diện cho bị hại bà Nguyễn Thị Mộng N3 không yêu cầu bị can Lê Hữu N bồi thường thêm.

[2] Tại Cáo trạng số: 43/CT-VKS-H.KS ngày 01 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã truy tố Bị cáo Lê Hữu N về tội “Tội cướp giật tài sản” theo điểm điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Hữu N đã khai nhận hành vi phạm tội như Bản kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố.

[4] Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo Lê Hữu N. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Phạt bị cáo Lê Hữu N từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Tội cướp giật tài sản” theo điểm điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 (tại phiên toà, Kiểm sát viên bổ sung tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo); Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đề nghị:

Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki loại xe RGV 120, màu sơn trắng đỏ đã qua sử dụng, được bị cáo sử dụng vào việc cướp giật tài sản; Số tiền Việt Nam đồng 3.600.000 đồng.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị P1 01 biển kiểm soát xe máy 95P1-2965;

Trả lại cho bị cáo Lê Hữu N: 01 (một) nhẫn trơn bằng kim loại màu vàng; số tiền Việt Nam đồng 115.000 đồng trong túi quần short phía trước bên trái của N; 01 nón bảo hiểm màu trắng có vành lưỡi trai màu đen, không có nhãn hiệu, loại nón sơn, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu đen bên trái có ghi chữ adidas (chữ màu trắng), tay dài màu trắng có sọc màu đen, loại dây kéo; 01 (một) quần short jean màu đen, xám nhãn hiệu Jean size 31;

Đối với 01 (một) mặt dây chuyền hình phật bằng đá màu xanh, có khung bằng kim loại màu vàng có tổng chiều dài là 2,8cm (đã trao trả lại cho người đại diện cho bị hại) nên không đề nghị xử lý (bút lụt 167).

Đối với 01 (một) chai xịt hơi cay NATO màu xanh, đỏ (đã chuyển kèm theo Công văn chuyển xử phạt vi phạm hành chính số 140 đến Công an phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang xem xét xử phạt vi phạm hành chính ngày 03/9/2023) nên không đề nghị Toà án xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình khắc phục xong phần yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thị N1 nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Bị cáo phát biểu khi tranh luận là đồng ý với nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng người và đúng tội.

[6] Bị cáo nói lời sau cùng là: bị cáo biết lỗi về những hành vi của mình, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và đồng thời bị cáo xin HĐXX xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, khắc phục những sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tư cách những người tham gia tố tụng: Bị hại Nguyễn Thị N1, sinh ngày 01/01/1953 đến khi chết vào ngày 01/8/2023 nhưng Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đưa bà Nguyễn Thị Mộng N3 (là cháu, thuộc hàng thừa kế thứ ba) vào tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị hại là không đúng. Theo Tờ khai quan hệ thừa kế thì bà Nguyễn Thị N1 không có người thừa kế hàng thừa kế thứ nhất nên những người thuộc hàng thừa kế thứ hai là Nguyễn Văn T2, Nguyễn K, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T4 Em là người đại diện hợp pháp của bị hại. Do vậy, HĐXX xác định lại tư cách người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị N1Nguyễn Văn T2, Nguyễn K, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T4 Em cho đúng quy định pháp luật.

[3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa; người đại diện hợp pháp của bị hại là Nguyễn Văn T2; Nguyễn K; Nguyễn Văn B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn Nhựt B1; người làm chứng là Võ Văn L đều vắng mặt và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; đồng thời, Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa cũng đề nghị xét xử vắng mặt những người này. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có căn cứ để kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23/4/2023 trên tuyến lộ đal thuộc địa bàn ấp K, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng bị cáo Lê Hữu N đã có hành vi điều khiển xe mô tô Suzuki loại xe RGV 120, màu sơn trắng đỏ, có gắn biển số 95P1-2965 thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bà Nguyễn Thị N1 01 sợi dây chuyền vàng dạng hình chữ công, trọng lượng 2,8 chỉ vàng cùng loại với mặt dây chuyền đã giám định (Vàng (A) 64,25%), có tổng giá trị (đã được định giá) 12.412.255 đồng (Mười hai triệu, bốn trăm, mười hai nghìn, hai trăm năm mươi lăm đồng). Hành vi cướp giật tài sản được bị cáo thực hiện một cách bất ngờ và nhanh chóng làm cho bị hại không kịp phản ứng, ngay sau khi bị giật tài sản, bị hại truy hô, đuổi theo nhưng bị cáo đã nhanh chóng điều khiển xe mô tô Suzuki loại xe RGV 120 tẩu thoát nhằm tránh khỏi việc truy đuổi của người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Thay vì cố gắng tìm kiếm công việc hợp pháp để có thêm thu thập thì bị cáo lại đi cướp giật tài sản của người khác nên cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng: Với tình tiết bị cáo Lê Hữu N điều khiển xe gắn máy để cướp giật tài sản của bà Nguyễn Thị N1 (sinh ngày 01/01/1953), tính đến ngày 23/4/2023 thì bị hại trên 70 tuổi nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người trên 70 tuổi” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người trên 70 tuổi” nhưng khi truy tố bị can thì nội dung của bản Cáo trạng không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như trên là có thiếu sót nhưng tại phiên toà Kiểm sát viên đã bổ sung tình tiết tăng nặng “Phạm tội đối với người trên 70 tuổi” đối với bị cáo là phù hợp.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; Bị cáo đã khắc phục, bồi thường thiệt hại cho cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Bị cáo là người có trình độ học vấn thấp; Bị cáo là người trực tiếp nuôi con nhỏ sinh năm 01/6/2023; người đại diện hợp pháp của có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo một mức án phù hợp để nhằm răn đe, giáo dục bị cáo.

[6] Việc xử lý vật chứng:

01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki loại xe RGV 120, màu sơn trắng đỏ; số tiền 3.600.000 đồng cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước;

01 biển kiểm soát xe máy số 95P1-2965 (đã qua sử dụng) là của bà Nguyễn Thị P1 nên cần trả lại cho bà Nguyễn Thị P1.

01 (một) nhẫn trơn bằng kim loại màu vàng (trong cốp xe mô tô Suzuki loại xe RGV 120, màu sơn trắng đỏ); số tiền 115.000 đồng; 01 nón bảo hiểm màu trắng có vành lưỡi trai màu đen, không có nhãn hiệu, loại nón sơn, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu đen bên trái có ghi chữ adidas (chữ màu trắng), tay dài màu trắng có sọc màu đen, loại dây kéo; 01 (một) quần short jean màu đen, xám nhãn hiệu Jean size 31 đều là của bị cáo không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo Lê Hữu N.

Đối với 01 (một) mặt dây chuyền hình phật bằng đá màu xanh, có khung bằng kim loại màu vàng có tổng chiều dài là 2,8cm đã trao trả lại cho người đại diện cho bị hại nên không xem xét, giải quyết.

Đối với 01 (một) chai xịt hơi cay NATO màu xanh, đỏ đã được chuyển kèm theo Công văn chuyển xử phạt vi phạm hành chính số 140 đến Công an phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang xem xét xử phạt vi phạm hành chính ngày 03/9/2023 nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên toà, bị cáo và gia đình bị hại đã thoả thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét gì thêm về trách nhiệm dân sự.

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

[9] Về quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm điểm d khoản 2 Điều 171; Áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đổi bổ sung năm 2017);

[1] Tuyên bố: bị cáo Lê Hữu N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Hữu N 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 08/5/2023.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quyết định như sau:

Tịch thu, sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki loại xe RGV 120, màu sơn trắng đỏ và số tiền 3.600.000 đồng (trong cốp xe Suzuki loại xe RGV 120, màu sơn trắng đỏ);

Trả lại cho bà Nguyễn Thị P1 biển kiểm soát số 95P1-2965 (đã qua sử dụng);

Trả lại cho bị cáo Lê Hữu N số tiền 115.000 đồng; 01 (một) nhẫn trơn bằng kim loại màu vàng (trong cốp xe mô tô Suzuki loại xe RGV 120, màu sơn trắng đỏ); 01 nón bảo hiểm màu trắng có vành lưỡi trai màu đen, không có nhãn hiệu, loại nón sơn, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu đen bên trái có ghi chữ adidas (chữ màu trắng), tay dài màu trắng có sọc màu đen, loại dây kéo; 01 (một) quần short jean màu đen, xám nhãn hiệu Jean size 31.

Đối với 01 (một) mặt dây chuyền hình phật bằng đá màu xanh, có khung bằng kim loại màu vàng có tổng chiều dài là 2,8cm (đã trao trả lại cho người đại diện cho bị hại) nên HĐXX không xem xét, giải quyết; 01 (một) chai xịt hơi cay NATO màu xanh, đỏ (đã chuyển kèm theo Công văn chuyển xử phạt vi phạm hành chính số 140 đến Công an phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang xem xét xử phạt vi phạm hành chính ngày 03/9/2023) nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại cho bị hại và cũng không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • TÒA
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Kế Sách;
  • - Công an huyện Kế Sách;
  • - Chi cục THADS huyện Kế Sách;
  • - Bị cáo; bị hại; đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN

Nguyễn Văn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự - tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 51/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hữu N - Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger