|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 07/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài
Ông Nguyễn Ngọc Cang
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2024/HSST ngày 14/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/HSST-QĐ ngày 16/5/2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh năm 1976 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Cha Phạm Văn M, sinh năm 1944 và mẹ Võ Thị C, sinh năm 1951; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ Phan Thị H, sinh năm 1980 (đã ly hôn); Có 01 người con sinh năm 2001.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 16/9/2023 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
* Bị hại: Ông Võ Văn P, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Anh K, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
- Bà Phạm Thị Ngọc D, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn T là anh vợ của Võ Văn P (sinh năm 1985; thường trú: Ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Cả hai sinh sống gần nhau tại ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Gia đình Trung sử dụng điện sinh hoạt chung đồng hồ điện với nhà P nhưng T không thanh toán tiền điện đầy đủ cho P nên cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Trong ngày 25/6/2023, T và P xảy ra đánh nhau 03 lần như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 25/6/2023, P đi nhậu về ngang nhà T tại ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thấy T đang ngồi nói chuyện với Nguyễn Anh K (sinh năm 1978; thường trú: Ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), P đi vào nói chuyện và cãi nhau với T. Sau đó, P về nhà lấy một thanh gỗ bản rộng, dài 102cm qua nhà tìm đánh T.
T thấy P cầm khúc gỗ qua nhà nên đã lấy thanh sắt hình chữ V, kích thước 04cm x 04cm x 145cm, khoảng cách giữa 2 cạnh là 06cm ra đứng gần cổng nhà chờ P đến. Cổng nhà T là loại cổng trượt ngang, có đường ray trượt đặt dưới đất. Khi đến, P giằng co kéo cánh cổng với T, cả hai cầm hung khí đánh về hướng đối phương nhưng chỉ trúng vào cổng.
Khi giằng co, P kéo mạnh làm cánh cổng rơi ra, P mất đà nên ngã cúi người xuống đất. T thấy vậy đi đến gần, dùng hai tay cầm 01 thanh sắt hình chữ V có kích thước (04cm x 04cm x 145cm, khoảng cách giữa 2 cạnh là 06cm) đánh mạnh 02 cái về hướng của P, đánh từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, cái thứ nhất trúng cổng, cái thứ hai đánh trúng đầu của P làm P ngã ngửa nằm bất tỉnh. K đi ra can ngăn và đưa P về nhà.
Lần thứ hai: Sau khi tỉnh lại, P đi qua nhà của T, lấy 01 thanh kim loại bản rộng, kích thước 167cm x 38cm, đặt ở gần cổng nhà đánh nhau với T nhưng không trúng và bị T hất rơi tấm kim loại. T và P ôm nhau vật lộn nhưng không bị thương tích. Sau đó, bà Phạm Thị Ngọc D (vợ của P; sinh năm: 1983; thường trú: Ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đến can ngăn và đưa P về nhà.
Lần thứ ba: P về nhà rồi đi ra khu vực bếp lấy một cái chày gỗ, chiều dài 22cm, đường kính đầu to là 4,5cm, đường kính đầu nhỏ là 04cm, đi lên phía trước nhà nhặt một viên gạch ống có bốn lỗ, kích thước 21cm x 9,5cm, tiếp tục đi qua nhà T để đánh nhau. Do không thấy T nên P đã ném chày gỗ và viên gạch vào nhà làm vỡ kính của cánh cửa sắt trong nhà T.
Sau đó, Công an xã P mời T, P làm việc. Lúc này, P đau đầu nên trong buổi tối cùng ngày P được người nhà đưa lên bệnh viện B cấp cứu.
Quá trình điều tra, Phạm Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HDĐGTS ngày 05/9/2023 của Hội đồng định giá huyện Đ xác định: 01 cánh cửa sắt có kính, dài 220cm, rộng 60cm. Hiện trạng bị đập vỡ kính, phần kính thuỷ tinh có kích thước dài 130cm, rộng 50cm, dày 03mm có giá trị là 300.000 đồng.
Bản kết luận giám định số: 332/KLTTCT-PYBRVT ngày 07/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B đối với: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Văn P trong vụ việc: “Cố ý gây thương tích” xảy ra tại: Xã P, huyện Đ, tỉnh BR-VT ngày 25/6/2023, Kết luận giám định như sau: (BL 55-59)
Phần kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
+ 01 sẹo trung bình.
+ 01 sẹo nhỏ.
+ Phẫu thuật sọ não (mở nắp sọ lấy máu tụ ngoài màng cứng), chưa thấy bất thường về tâm thần kinh.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Văn P tại thời điểm giám định là 40% (Bốn mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Thương tích do vật gì gây ra, chiều, hướng, lực tác động gây ra thương tích: Thương tích của nạn nhân được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trái sang phải.
Việc thu giữ vật chứng và xử lý vật chứng:
+ Cơ quan CSĐT tiến hành thu giữ vật chứng gồm: 01 thanh sắt hình chữ V có kích thước (04cm x 04cm x 145cm, khoảng cách giữa 2 cạnh là 06cm); 01 thanh gỗ bản rộng (chiều dài 102 cm, chiều rộng đầu thanh gỗ lớn 14cm, chiều rộng đầu thanh gỗ nhỏ 9,5 cm); 01 thanh kim loại bản rộng (kích thước 167cm x 38 cm); 01 cái chày gỗ (chiều dài 22cm, đường kính đầu to là 4,5 cm, đường kính đầu nhỏ là 04 cm); 01 viên gạch ống có bốn lỗ (kích thước 21 cm x 9,5 cm).
Vật chứng trên được chuyển đến Cục Thi hành án dân sự quản lý, chờ xử lý.
+ Đối với 01 đĩa DVD-R 4,7GB bên trong chứa hai đoạn video liên quan đến vụ cố ý gây thương tích ngày 25/6/2023 tại ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh BR-VT được lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Văn P đã nhận 9.000.000 đồng bồi thường từ bị cáo T. Hiện không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự, đồng thời làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Đối với thiệt hại tài sản là cửa kính nhà T, Võ Văn P đã khắc phục, sửa chữa nên T không yêu cầu bồi thường về dân sự.
2. Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSBRVT-P2 ngày 06/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa:
Trong bản luận tội vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại Phạm Văn P1 9.000.000 đồng, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định.
Bị cáo và bị hại không tranh luận.
4. Bị cáo nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác;
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại, kết luận giám định, thực nghiệm điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 25/6/2023, tại khu vực cổng nhà Phạm Văn T thuộc ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, do mâu thuẫn trong gia đình giữa T và anh Võ Văn P (em rể của T), P đã mang 01 thanh gỗ đến nhà đánh T. T phát hiện nên lấy một thanh sắt chữ V kích thước (04cm x 04cm x 145cm, khoảng cách giữa 2 cạnh là 06cm) để đánh lại P. Quá trình đánh nhau, P mất đà chúi xuống, Phạm Văn T đã dùng cả hai tay cầm vào phần đuôi thanh sắt trên, đánh với cường độ mạnh, liên tiếp hai cái vào P. Trong đó một cái trúng vào đầu làm P bị nứt sọ, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 40%. Khi thực hiện hành vi đánh vào người P buộc T phải nhận thức được đầu là vùng trọng yếu, nếu đánh mạnh vào có thể gây hậu quả chết người.
Do đó, Hội đồng xét xử hoàn toàn có căn cứ quy kết bị cáo Phạm Văn T đã phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn T là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của ông Phạm Văn P1. Bị cáo đã trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo hoàn toàn có khả năng nhận thức được việc thực hiện hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác, coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần có mức án phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại Phạm Văn P1 9.000.000 đồng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, không ai yêu cầu gì thêm nên không giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh sắt hình chữ V có kích thước (04cm x 04cm x 145cm, khoảng cách giữa 2 cạnh là 06cm); 01 thanh gỗ bản rộng (chiều dài 102 cm, chiều rộng đầu thanh gỗ lớn 14cm, chiều rộng đầu thanh gỗ nhỏ 9,5 cm); 01 thanh kim loại bản rộng (kích thước 167cm x 38 cm); 01 cái chày gỗ (chiều dài 22cm, đường kính đầu to là 4,5 cm, đường kính đầu nhỏ là 04 cm); 01 viên gạch ống có bốn lỗ (kích thước 21 cm x 9,5 cm.
- Tiếp tục lưu giữ kèm hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD-R 4,7GB bên trong chứa hai đoạn video liên quan đến vụ cố ý gây thương tích ngày 25/6/2023 tại ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh BR-VT.
[7] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Giết người”.
Áp dụng: khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Phạm Văn T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh sắt hình chữ V có kích thước (04cm x 04cm x 145cm, khoảng cách giữa 2 cạnh là 06cm); 01 thanh gỗ bản rộng (chiều dài 102 cm, chiều rộng đầu thanh gỗ lớn 14cm, chiều rộng đầu thanh gỗ nhỏ 9,5 cm); 01 thanh kim loại bản rộng (kích thước 167cm x 38 cm); 01 cái chày gỗ (chiều dài 22cm, đường kính đầu to là 4,5 cm, đường kính đầu nhỏ là 04 cm); 01 viên gạch ống có bốn lỗ (kích thước 21 cm x 9,5 cm.
(Hiện các vật chứng đang được bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 54/BB-CTHADS ngày 05/4/2024).
- Tiếp tục lưu giữ kèm hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD- R 4,7GB bên trong chứa hai đoạn video liên quan đến vụ cố ý gây thương tích ngày 25/6/2023 tại ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh BR-VT.
4. Án phí sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn T nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hiếu |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về giết người (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T Giết người
