Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN LẠC

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày: 06/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khảm và ông Đỗ Hồng Phúc

- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn Đ, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1998; Nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Văn B (đã chết), con bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Y. Có mặt.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/4/2024, tại đoạn đường tỉnh lộ 305 thuộc tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang Bùi Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: T tại túi quần phía trước bên phải Đ đang mặc 01 túi nilon bên trong đựng tinh thể dạng đá màu trắng (Đ khai nhận là ma túy "ke" của Đ, Đ tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân) niêm phong ký hiệu Al; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh của Đ.

Quá trình điều tra, Bùi Văn Đ khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02/4/2024, Đ đang ở thôn T, xã T thì Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1995 ở thôn N, xã T gọi điện thoại cho Đ rủ Đ cùng sử dụng ma túy, Đ đồng ý. Sau đó, Ú bảo Đ mua 03 “chỉ” ma túy “ke” về để cùng sử dụng. Đ gọi điện thoại qua ứng dụng zalo cho Phạm Quang H1, sinh năm 1999 ở tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Y hỏi mua của H1 03 chỉ ma túy "ke", H1 đồng ý bán cho Đ với giá 3.000.000 đồng và hẹn Đ đến khu vực thị trấn Y, huyện Y để trao đổi mua bán ma túy. Đ gọi lại cho Ú bảo 03 chỉ ma túy "ke" có giá 3.000.000 đồng, Ú đồng ý và bảo Đ đến gặp Ú ở tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Y để lấy tiền đi mua ma túy. Sau đó, Đ đi xe taxi từ xã T đến điểm hẹn gặp Ú và nhận số tiền 3.000.000 đồng của Ú rồi tiếp tục đi đến thị trấn Y gặp H1 để mua ma túy. Khi đi đến một ngõ nhỏ thuộc thị trấn Y, Đ gặp và mua được của H1 01 túi ma túy “ke” với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ cất số ma túy vừa mua được vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi xe taxi về tổ dân phố L, thị trấn T để gặp Ú cùng sử dụng ma túy. Khi đến nơi, Đ xuống xe đi bộ trên đường T thuộc tổ dân phố L, thị trấn T thì tổ công tác Công an huyện Y đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Ngày 06/4/2024, Phòng K – Công an tỉnh V có Bản kết luận giám định số 842/KLGD-KTHS, kết luận: Tình thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,3969g (hai phảy ba chín sáu chín gam, không kể bao bì) loại Ketamine.

Tại Cáo trạng số 53/CT-VKSYL, ngày 01/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo Bùi Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ từ 14 tháng đến 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu A1 = 1,8768 gam còn lại sau giám định; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của Bùi Văn Đ. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bào chữa gì thêm và nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/4/2024, tại khu vực đường T thuộc tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Bùi Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy theo kết luận giám định là Ketamine, có khối lượng 2,3969g thì bị Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của Bùi Văn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, nội dung điều luật quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

g) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam"".

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Việc sử dụng ma túy gây ảnh hưởng đến sức khỏe cho chính bản thân người nghiện, gây tác hại đến cả gia đình và toàn xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội khác, gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trước khi phạm tội Bùi Văn Đ là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật. Tạo cơ hội cho bị cáo cải tạo, tu dưỡng bản thân, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy trước khi phạm tội bị cáo làm lao động tự do, không có công việc, thu nhập ổn định, tại địa phương bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng:

  • - Đối với bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu A1 = 1,8768g còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của Bùi Văn Đ dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý nên cần tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước.

[6]. Về các vấn đề khác:

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành giám định nội dung trong chiếc điện thoại thu giữ của Bùi Văn Đ, kết quả thu được 36 tin nhắn ứng dụng Zalo trong thời gian ngày 02/4/2024. Qua xem xét 36 tin nhắn ứng dụng Zalo trong Phụ lục giám định xác định không có nội dung nào liên quan đến việc Đ mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Căn cứ vào lời khai của Bùi Văn Đ, cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của Nguyễn Văn Ú nhưng Ú không thừa nhận việc đưa tiền cho Đ đi mua ma túy ngày 02/4/2024. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Đ với Ú nhưng không làm rõ được nội dung này. Bản thân Đ cũng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho lời khai của mình là đúng nên không có căn cứ xác định việc Ú đưa tiền cho Đ đi mua ma túy ngày 02/4/2024. Vì vậy, cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Ú.

Quá trình điều tra, Bùi Văn Đ khai nhận nguồn gốc số ma túy mà Đ bị thu giữ ngày 02/4/2024 do đạt mua được của Phạm Quang H1. Cuộc gọi qua ứng dụng Zalo với H1 để trao đổi mua bán ma túy, sau khi mua được ma túy Đ đã xóa hết. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập Phạm Quang H1 lên làm việc nhưng H1 đều không có mặt ở địa phương nên chưa có căn cứ làm rõ được. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.

Đối với người lái xe taxi chở Bùi Văn Đ đến gặp Nguyễn Văn Ú lấy tiền và đi mua ma tuý của Phạm Quang H1: Đ không biết người này là ai, lái xe taxi của hãng nào, Đ cũng không nói cho người này biết việc Đ đi mua ma tuý nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/4/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  • - Tịch thu, tiêu hủy bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu A1 = 1,8768 gam còn lại sau giám định;
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của Bùi Văn Đ.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/7/2024 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc).

- Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Yên Lạc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Lạc;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Ủy ban nhân dân xã T;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Đ tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger