Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06-8-2024

V/v tranh chấp ly hôn, con chung giữa chị

Thúy và anh Quyền

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn La

Ông Dương Kim Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 195/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/6/2024 về việc “tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1992 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Trần Văn Q, sinh năm 1985 ( có mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày như sau:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị chung sống với anh Trần Văn Q khoảng tháng 4/2023 đến ngày 11/12/2023 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong vợ chồng về chung sống tại gia đình anh Q ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Q thường xuyên vắng nhà và quan hệ bất chính với người phụ nữ khác thường xuyên đánh chửi chị, vợ chồng xảy ra xô sát không tìm được tiếng nói chung. Do vợ chồng mâu thuẫn tháng 4/2024, chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn Q.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Trần An N, sinh ngày 14/12/2023. Hiện con khỏe mạnh, phát triển bình thường, con đang ở cùng anh Q từ ngày 09/6/2024 đến nay do anh Q giữ ngăn cản chị thăm nuôi con. Nếu vợ chồng ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn anh Trần Văn Q được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra chị T trình bày: Hiện nay chị làm nghề DJ tổ chức sự kiện, có mức thu nhập ổn định khoảng từ 20 triệu đến 25 triệu đồng một tháng. Chị đang ở cùng nhà đất của bố mẹ ở H. Chị có đủ điều kiện để nuôi dưỡng chăm sóc con chung.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Ngô Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Ngô Thị T vẫn giữ nguyên quan điểm trên.

*Tại văn bản trình bày ý kiến, các lời khai tiếp theo bị đơn anh Trần Văn Q trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Anh Q xác nhận về thời gian và quá trình kết hôn như chị T trình bày là đúng. Kết hôn xong vợ chồng về chung sống tại gia đình anh ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc.

Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vì chị T thường đi làm đêm, sử dụng chất kích thích có biểu hiện tâm lý không bình thường nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn xô sát cãi cọ nhau. Tháng 4/2024, chị T bỏ về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn Q, anh đồng ý.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Trần An N, sinh ngày 14/12/2023. Hiện con khỏe mạnh, phát triển bình thường đang ở cùng anh. Vợ chồng ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, vấn đề cấp dưỡng nuôi con anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị Ngô Thị T được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra anh Q trình bày: Hiện nay anh làm nghề tự do, mức thu nhập không ổn định. Anh xin nuôi con vì chị T thường đi làm đêm sử dụng chất kích thích công việc không ổn định, tính tình thất thường có biểu hiện tâm lý không bình thường đã nhiều lần tự tử nên không thể chăm sóc con một cách tốt nhất.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Trần Văn Q không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa anh Trần Văn Q vẫn giữ nguyên quan điểm trên.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T và anh Trần Văn Q.

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị T và anh Trần Văn Q.

2. Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Trần An N, sinh ngày 14/12/2023. Việc góp cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Trần Văn Q được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của BLTTDS, không có đương sự nào khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các đương sự đều có mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T chung sống với anh Trần Văn Q khoảng tháng 4/2023 đến ngày 11/12/2023 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Cưới xong anh chị về chung sống tại gia đình anh Q ngay, quá trình chung sống được một thời gian ngắn thì vợ chồng xảy ra bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung do vợ chồng không quan tâm chăm sóc cho nhau và do nghi ngờ anh Q không chung thủy nên vợ chồng xảy ra xô sát. Tháng 4/2024, chị T đưa con bỏ về nhà mẹ đẻ ở, anh chị sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm kinh tế từ đó cho đến nay. Cả chị T và anh Q đều xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được phía chị T xin ly hôn anh Q cũng đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vợ chồng không có khả năng đoàn tụ vì anh chị sống ly thân từ tháng 4/2024 đến nay và anh chị xin thuận tình ly hôn. Nên căn cứ Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị T và anh Trần Văn Q.

[3] Về con chung: Chị Ngô Thị T và anh Trần Văn Q có một con chung là Trần An N, sinh ngày 14/12/2023. Vợ chồng ly hôn cả chị T và anh Q đều có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.

Xét thấy, con chung của chị T và anh Q mới chưa tròn 08 tháng tuổi còn quá nhỏ cần có mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị T có công việc làm và mức thu nhập ổn định từ 20 triệu đến 25 triệu đồng một tháng. Chị T có nơi ở ổn định cùng nhà với bố mẹ đẻ có thể phụ giúp trông nom chăm sóc con. Phía anh Q xin nuôi con vì cho rằng tâm lý chị T không ổn định, chị T đã từng có hành vi tự tử nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào để chứng minh.

HĐXX xét thấy để xem xét mọi mặt quyền lợi của con, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em theo Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo. Xét thấy cần thiết giao con chung là Trần An N, sinh ngày 14/12/2023 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng để chị T có thể chăm sóc, giáo dục các con đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần tâm sinh lý là phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ngô Thị T không yêu cầu anh Trần Văn Q góp cấp dưỡng nuôi con chung, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Trần Văn Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Ngô Thị T và anh Trần Văn Q không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc chị Ngô Thị T phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007644 ngày 21/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Hoàn trả chị Ngô Thị T 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí.

Buộc anh Trần Văn Q phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 55; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị T và anh Trần Văn Q.

2. Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Trần An N, sinh ngày 14/12/2023. Việc góp cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Trần Văn Q được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Buộc chị Ngô Thị T phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007644 ngày 21/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Hoàn trả chị Ngô Thị T 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí.

Buộc anh Trần Văn Q phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hương Lạc;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Th, anh Q- LH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger