|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 06/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Cảnh;
- Ông Phạm Xuân Hào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 31/5 và ngày 06/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Tô Văn H, sinh năm 1970 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn T (chết) và bà Trương Thị T1, sinh năm 1935; vợ là Đầu Thị L, sinh năm 1971 (đã ly hôn), bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/3/2023 đến ngày 18/8/2023 được áp dụng thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hoàng Xuân Q, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Tô Hải N, sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
Ông Tô Văn H, ông Trần Thanh T2; ông Huỳnh Thanh N1, ông Nguyễn Thành Q1, ông Nguyễn Văn T3. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/11/2017, bị cáo Tô Văn H nhận hợp đồng ủy quyền thửa đất số 10, tờ bản đồ 57 diện tích 14.838,1 m² (trong đó có 400 m² đất ở nông thôn và 12.392,8 m² đất nuôi trồng thủy hải sản và 2045,3 m² đất trồng cây lâu năm khác) và thửa đất số 11, tờ bản đồ số 57 diện tích 8517,3 m² (trong đó có 400 m² đất ở nông thôn và 7607,2 m² đất nuôi trồng thủy sản, 466,8m² đất trồng cây lâu năm), đều tọa lạc tại ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương từ ông Hoàng Xuân Q với giá 2.000.000.000 đồng. Trước đó, ngày 17/3/2017, ông Q được Ủy ban nhân dân huyện P cấp phép thành lập cơ sở nuôi trồng thủy sản T4 do ông Q làm chủ trên 02 thửa đất trên và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Bình Dương xác nhận chuyển mục đích sử dụng từ trồng cây lâu năm thành đất nuôi trồng thủy sản với tổng diện tích 20.000 m².
Ngày 17/8/2017, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bình Dương cấp Giấy phép khai thác đất san lấp, sét gạch số 179/GP-UBND trên diện tích 02 thửa đất nêu trên cho ông Q, ông Q ủy quyền cho bị cáo Tô Văn H nên bị cáo H là người trực tiếp thu lợi từ việc đào khai thác đất san lấp, đất sét gạch. Thời hạn khai thác đất san lấp, đất sét gạch theo Giấy phép số 179/GP-UBND hết hạn nên bị cáo H tiếp tục làm các thủ tục xin gia hạn, đến ngày 08/01/2019, UBND tỉnh B cấp Giấy phép khai thác đất san lấp, sét gạch số 02/GP-UBND cho ông Q nhưng ông Q không làm thủ tục mà do H là người trực tiếp liên hệ làm thủ tục và khai thác đất san lấp, đất sét gạch. Khi đào khai thác đất san lấp, đất sét gạch xong, H làm thủ tục hoàn công được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thông báo chấp thuận hoàn công vào ngày 18/9/2020 cho ông Q theo Thông báo số 4144/TB-STNMT (nhưng ông Q không làm thủ tục hoàn công). Sau khi khai thác đất xong, H không thực hiện việc nuôi trồng thủy sản mà từ tháng 01/2022 tiến hành san lấp ao. Để tiết kiệm chi phí mua đất san lấp nên H cho một số cá nhân (H không biết rõ nhân thân, lai lịch) đem các chất thải như xà bần, tro xi than, bịch nylon, vải vụn, nhựa vụn đến đổ.
Ngày 22/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B kết hợp các cơ quan chuyên môn, giám định viên về môi trường tiến hành khảo sát, thu mẫu chất thải tại Cơ sở T4 để giám định. Kết quả kiểm tra thực tế khu đất san lấp (diện tích khoảng 2.500 m²) bằng cách đào sâu khoảng 4m tại 08 vị trí ngẫu nhiên trên khu đất đã san lấp phát hiện 04/08 vị trí được đào lên có chứa số lượng chất thải bao gồm: Xỉ than, tro, nilong, bùn thải, bốc mùi hôi được chôn lấp, phía trên có phủ một lớp đất bề mặt khoảng 3m đến 4m, còn lại 04 vị trí không phát hiện chất thải.
Từ ngày 01/12/2022 đến ngày 06/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra kết hợp với Thanh tra Sở T, Phòng C, Chi nhánh Xử lý chất thải của Công ty Cổ phần N2 cùng Ủy ban nhân dân xã P tiến hành đào, vận chuyển, cân khối lượng, tiêu hủy chất thải được chôn lấp tại cơ sở T4 dưới sự chứng kiến của đại diện cơ sở. Kết quả xác định tổng khối lượng chất thải được chôn lấp tại cơ sở là 642.070 kg (sáu trăm bốn mươi hai nghìn không trăm bảy mươi kilogam) trên khu vực có diện tích khoảng 1000 m².
Kết luận giám định tư pháp ngày 24/10/2022 của ông Ngô Thành Đ - Giám định viên tư pháp thuộc Ban quản lý các khu liên hợp xử lý chất thải Thành phố Hồ Chí Minh xác định chất thải tại cơ sở T4 là chất thải rắn công nghiệp thông thường.
Ngày 07/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 177/QĐ-CSKT(Đ4) về vụ án Gây ô nhiễm môi trường theo quy định tại khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Hình sự. Ngày 14/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định khởi tố bị can số 80/QĐ- CSKT-Đ1 đối với Tô Văn H về tội Gây ô nhiễm môi trường theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Hình sự. Ngày 18/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản Cáo trạng số 117/CT-VKSPG ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Tô Văn H về tội Gây ô nhiễm môi trường theo điểm d khoản 3 Điều 235 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 3 Điều 235; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tô Văn H hình phạt tiền từ 1.100.000.000đ đến 1.200.000.000₫.
Vật chứng thu giữ: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 013397 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương cấp ngày 31/5/2012 cho Tô Văn H. Xét thấy đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo Tô Văn H, không liên quan đến Cơ sở T4 và không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Ngày 15/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo đã ra Quyết định trả lại cho bị cáo H.
Về trách nhiệm dân sự: Từ ngày 01/12/2022 đến ngày 06/12/2022, Chi nhánh Xử lý chất thải của Công ty Cổ phần N2 tiến hành vận chuyển và xử lý chất thải với tổng chi phí là 1.595.450.010đ, ông Tô Hải N (là con của bị cáo H) đã thay mặt bị cáo H thanh toán số tiền này. Ông N không yêu cầu bị cáo H phải trả lại số tiền trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Tô Văn H khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án là hình phạt tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Tuy nhiên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo ban hành ngày 06/9/2023 nhưng đến ngày 26/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo mới chuyển bản cáo trạng và hồ sơ vụ án cho Tòa án là vi phạm về thời hạn theo Điều 244 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Xuân Q, ông Tô Hải N có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng ông Tô Văn H, ông Trần Thanh T2, ông Huỳnh Thanh N1, ông Nguyễn Thành Q1, ông Nguyễn Văn T3 vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ theo các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Tô Văn H tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản vụ việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.
Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Tô Văn H nhận ủy quyền thửa đất số 10, tờ bản đồ 57 diện tích 14.838,1 m² (trong đó có 400 m² đất ở nông thôn và 12.392,8 m² đất nuôi trồng thủy hải sản và 2045,3 m² đất trồng cây lâu năm khác) và thửa đất số 11, tờ bản đồ số 57 diện tích 8517,3 m² (trong đó có 400 m² đất ở nông thôn và 7607,2 m² đất nuôi trồng thủy sản, 466,8m² đất trồng cây lâu năm), đều tọa lạc tại ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương từ ông Hoàng Xuân Q để đào khai thác đất san lấp, đất sét gạch nhằm nuôi trồng thủy sản tại cơ sở nuôi trồng thủy sản “Thăng Tiến". Tuy nhiên, sau khi khai thác đất san lấp, đất sét gạch xong, H không tiến hành nuôi trồng thủy sản mà san lấp lại mặt bằng bằng cách cho một số cá nhân (H không biết nhân thân, lai lịch) đem các chất thải như xà bần, tro xỉ than, bịch nylon, vải vụn, nhựa vụn đến đổ. Kết quả xác định tổng khối lượng chất thải được chôn lấp tại cơ sở T4 là 642.070 kg (sáu trăm bốn mươi hai nghìn không trăm bảy mươi kilogam), theo Kết luận giám định tư pháp ngày 24/10/2022 của ông Ngô Thành Đ - Giám định viên tư pháp thuộc Ban quản lý các khu liên hợp xử lý chất thải Thành phố Hồ Chí Minh xác định chất thải tại cơ sở T4 là chất thải rắn công nghiệp thông thường.
Tính chất, mức độ tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, làm biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Gây ô nhiễm môi trường được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Tô Văn H có các thành tích: Ban chứng nhận đạt danh hiệu hội viên sản xuất, kinh doanh giỏi cấp trung ương năm 2019; Huyện ủy Phú Giáo tặng giấy khen đạt tiêu chuẩn đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu biểu năm 2006; Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P tặng giấy khen đạt thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng và phát triển huyện P giai đoạn 1999 - 2009; Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P tặng giấy khen hoàn thành xuất sắc trong phong trào thi đua “Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi các năm 2011, 2012, 2017; Đảng bộ xã P tặng giấy khen đảng viên xuất sắc các năm 2014, 2017, 2019, 2020, 2021, ngoài ra bị cáo H còn được tặng thưởng nhiều giấy khen và tri ân trong công tác nhân đạo, công tác phòng chống dịch bệnh covid-19; bị cáo H có mẹ là bà Trương Thị T1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, có cha là ông Tô Văn T được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ những phân tích nêu trên, xét thấy bị cáo Tô Văn H có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 21/3/2023 đến ngày 18/8/2023, thời gian tạm giam cũng đủ giúp bị cáo nhận thức lỗi lầm, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi môi trường xã hội mà áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Từ ngày 01/12/2022 đến ngày 06/12/2022, Chi nhánh Xử lý chất thải của Công ty Cổ phần N2 tiến hành vận chuyển và xử lý chất thải với tổng chi phí là 1.595.450.010đ, ông Tô Hải N (là con của bị cáo H) đã thay mặt bị cáo H thanh toán số tiền này. Ông N không yêu cầu bị cáo H phải trả lại số tiền trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Đối với các đối tượng đưa chất thải đến đổ tại Cơ sở T4 hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[9] Xét thấy việc cấp giấy phép khai thác đất san lấp, đất sét gạch số 02/GP-UBND ngày 08/01/2029 của Ủy ban nhân dân tỉnh B và việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B làm các thủ tục hoàn công là chưa đúng đối tượng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo đã kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[10] Đối với ông Hoàng Xuân Q và bị cáo Tô Văn H sử dụng 02 thửa đất nêu trên không đúng mục đích, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo đã kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện P xem xét xử lý nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo đối với tội danh, hình phạt và các tình tiết khác là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 235; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Văn H phạm tội Gây ô nhiễm môi trường.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Văn H số tiền 1.100.000.000đ (một tỷ một trăm triệu đồng).
- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Ông Tô Hải N không yêu cầu bị cáo H phải trả lại số 1.595.450.010đ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo Tô Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Khoa |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Xuân Hào - Phạm Văn CảnhNguyễn Thị Kim Khoa
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (gây ô nhiễm môi trường)
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây ô nhiễm môi trường)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chôn lắp chất thải gây ôn nhiễm môi trường
