Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẬP THẠCH

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST

Ngày 05 tháng 9 năm 2024

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH – VĨNH PHÚC

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Trung Thành

2/ Ông Triệu Kiên Toàn

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên tòa: Bà Diệp Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 45/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị C, sinh năm 1987, (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh V.

- Bị đơn: Anh Đoàn Đức T, sinh năm 1991, (vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã L, huyện L, tỉnh V. Hiện nay đang chấp hành án tại: Đội 23, phân trại số 3, trại giam Ngọc Lý, xã Cao Xá, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 28/3/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là chị Lê Thị C trình bày:

Chị kết hôn với anh Đoàn Đức T ngày 22/12/2006, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh V. Sau khi kết hôn, anh T về ở rể và chung sống cùng gia đình chị tại thôn H, xã B. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau và thỉnh thoảng đánh nhau, sau đó anh T bị nghiện ma túy. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2009 đến nay. Năm 2009, anh T bị bắt phạm tội liên quan đến ma túy và bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử tù chung thân. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung tên là Đoàn Thị Phương L, sinh ngày 01/10/2007. Hiện nay cháu L đang ở cùng chị. Ly hôn, chị xin được nuôi cháu L và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Đoàn Đức T vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong bản tự khai ngày 09/7/2024, anh T trình bày: Anh cũng xác định về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống và nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn như chị C trình bày là đúng. Nay anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị C đề nghị xin ly hôn, anh cũng đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung như chị C trình bày là đúng. Ly hôn, anh đồng ý để chị C tiếp tục nuôi dưỡng cháu L và anh không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm về việc tuân thủ các quy định tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Anh Đoàn Đức T là bị đơn, có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị C và anh T được ly hôn; về con chung: Giao cho chị C trực tiếp nuôi cháu Đoàn Thị Phương L, sinh ngày 01/10/2007, anh T không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị C; tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức do chị C, anh T không đề nghị giải quyết nên không xem xét; về án phí, chị C phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của chị Lê Thị C và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn là anh Đoàn Đức T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Liễn Sơn, huyện Lập Thạch nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Lập Thạch theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Bị đơn là anh Đoàn Đức T mặc dù vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên anh T đã có đơn đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt đúng theo quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Tư.

[2] Nội dung vụ án: Cuộc hôn nhân giữa chị Lê Thị C và anh Đoàn Đức T là cuộc hôn nhân hợp pháp, xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau và thỉnh thoảng đánh nhau. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ từ năm 2009 cho đến nay. Nay chị C và anh T cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị tòa án giải quyết cho anh, chị được ly hôn.

Xét tình cảm vợ chồng của chị C và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng có thời gian dài sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, đề nghị của chị C xin được ly hôn anh T là có căn cứ, cần được chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Xét về quyền và nghĩa vụ nuôi con chung của các bên là như nhau. Tuy nhiên, anh T đang chấp hành án tại trại giam nên không có điều kiện để chăm sóc con chung, anh T đồng ý để chị C trực tiếp nuôi con chung. Hơn nữa, chị C cũng tự nguyện trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh T đóng góp nuôi con chung cung. Xét yêu cầu của các bên là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

[4] Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Các bên không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: chị Lê Thị C phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Cho chị Lê Thị C được ly hôn anh Đoàn Đức T.

Về con chung: Giao cho chị C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đoàn Thị Phương L (tên trong sổ khai sinh là Đoàn Phương L), sinh ngày 01/10/2007. Anh T không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị Chanh.

Sau khi ly hôn, anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Lê Thị C phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai số: 0000185 ngày 01/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lập Thạch. Chị Chanh đã nộp đủ án phí.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày giao nhận bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lập Thạch;
  • - Chi cục THADS Lập Thạch;
  • - UBND xã Liễn Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH – VĨNH PHÚC về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH – VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Chanh và Đoàn Đức Tư
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger