|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 05 - 7 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng
2. Bà Phan Thị Vui
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Vân - Kiểm sát viên .
Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 15/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 13/6/2024 đối với bị cáo:
Trần Đức T, sinh năm 1970 tại Quảng Bình.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 00/12.
Nơi cư trú: Tổ 2, khu P, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha: Trần Minh C, sinh năm 1935 (đã chết), Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1949 (đã chết); Bị cáo có 05 anh, chị ruột; Bị cáo có vợ tên: Lê Thị T1, sinh năm: 1968; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2009. Cùng ngụ tại: Tổ B, khu P, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: ngày 16/01/1999 bị TAND tỉnh Bình Phước xử phạt 08 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, T đã chấp hành xong Bản án.
Ngày 02/02/2024 có hành vi buôn bán hàng cấm pháo hoa nổ, bị bắt quả tang, đến ngày 06/02/2024 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam, đến ngày 16/04/2024 được Viện kiểm sát huyện H thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp cho gia đình bảo lĩnh.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 01/02/2024, Trần Đức T đã liên hệ với người bán pháo hoa nhập lậu, trên mạng xã hội Facebook (không nhớ tên, địa chỉ) để đặt mua pháo với mục đích mua về bán lại kiếm tiền lời. Sau khi tìm được người bán pháo trên mạng, T thỏa thuận giá là 350.000 đ /01 hộp loại pháo loại pháo 49 ống, địa điểm giao pháo là tại nhà của T ở tổ B, khu P, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Sau khi thỏa thuận xong, T đặt mua 07 hộp pháo với tổng giá trị 2.450.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì người này chở 07 hộp pháo giao cho T. Sau khi nhận pháo và trả tiền, T đem toàn bộ số pháo mới mua cất vào trong nhà. Đến khoảng 08 giờ ngày 02/02/2024, Nguyễn Văn K thông qua mạng xã hội Facebook liên hệ với T đặt mua 01 hộp pháo. T đồng ý bán cho K với giá là 450.000 đ. Để tránh bị phát hiện T nói với K đến nhà T để lấy pháo. Thỏa thuận việc mua, bán pháo xong Khá điều khiển xe mô tô biển số: 61S5 – 1369 đi từ ấp B, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước đến nhà T. Khi K đến nhà của T, T đi vào trong lấy 01 hộp pháo để vào trong bịch ni lông màu đen mang giao cho K. Khá cất pháo vào bên trong cốp xe mô tô thì lúc này lực lượng tuần tra kiểm soát Công an huyện H phát hiện bắt giữ được T, còn K bỏ chạy thoát. Tại hiện trường thu giữ được 01 xe mô tô biển số kiểm soát: 61S5 - 1369 và 01 hộp pháo có khối lượng là 1,65 kg bên trong cốp xe mô tô.
Tiến hành khám xét nơi ở của T phát hiện tại khu vực trước sân nhà ở có 05 hộp pháo có khối lượng là 08 kg được đựng trong túi ni lông màu đen, trong phòng ngủ của thu thêm 01 hộp pháo có khối lượng là 1,65 kg. Như vậy tổng khối lượng pháo thu giữ được của T là 11,1 kg (BL 22,23, từ 70 đến 78).
Tại bản kết luận giám định số 221/KL – KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu ký hiệu là M1 và M2 trong hai thùng giấy được niêm phong gửi đi giám định là pháo nổ ( pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu, có tổng khối lượng là 11,1kg (Bl 52).
Vật chứng thu giữ của vụ án:
- - 07 khối hình hộp, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, kích thước mỗi hộp là 16 x 16 x 10cm, có tổng trọng lượng là 11,1kg đã được niêm phong.
- - 01 xe mô tô biển số kiểm soát: 61S5 - 1369, màu Đen Bạc, số khung: RLHJF1806AY486457, số máy: JF27E0504503, Nhãn hiệu: HONDA, Số loại: AIR BLADE.
Xử lý vật chứng của vụ án:
01 xe mô tô biển số kiểm soát: 61S5 - 1369. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên thuộc sở hữu hợp pháp của ông Trần Văn T2. Vào ngày 02/02/2024 ông T2 đến nhà K chơi và cho K mượn xe, việc Nguyễn Văn K sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện để thực hiện hành vi mua, bán pháo hoa nhập lậu thì ông T2 không biết. Do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra Quyết định trả lại xe mô tô trên cho ông T2 nên Viện kiểm sát không đề cập đến.
07 khối hình hộp, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, kích thước mỗi hộp là 16 x 16 x 10cm, có tổng trọng lượng là 11,1kg đã được niêm phong, là pháo nổ, cấm tàng trữ, lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định
Về vấn đề dân sự: Không có nên không đặt ra.
Cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo Trần Đức T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Đức T hình phạt chính là hình phạt tiền với số tiền từ 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu) đồng đến 140.000.000 (Một trăm bốn mươi triệu) đồng.
Về vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên đề nghị như nội dung bản cáo trạng.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Trần Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên vào ngày 01/02/2024, Trần Đức T đã mua 07 hộp pháo hoa nhập lậu của 01 người không rõ nhân thân, lai lịch trên mạng xã hội Facebook có khối lượng 11,1kg rồi đem cất giấu trong nhà với mục đích bán lại để kiếm lời. Đến ngày 02/02/2024 khi T đang bán 01 hộp pháo cho Nguyễn Văn K trước cửa nhà thì bị bắt quả tang.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đức T phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, Biên bản kiểm tra hiện trường, Biên bản niêm phong đồ vật và vật chứng là 22,1kg pháo hoa dạng nổ. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” nên Cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bọ cáo Trần Đức T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[4] Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình được pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn có tiền lời qua việc mua bán pháo nổ để có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi buôn bán pháo dạng nổ nêu trên là hàng hóa thuộc danh mục cấm lưu hành trên thị trường Việt Nam do bị cáo Trần Đức T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành; bị cáo có nhân thân xấu, ngày 16/01/1999 bị TAND tỉnh Bình Phước xử phạt 08 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, T đã chấp hành xong Bản án. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà bị cáo tiếp tục phạm tội buôn bán hàng cấm nên cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn vì khi bị cáo mua pháo về để bán kiếm lời nhưng chưa bán được thì bị bắt quả tang nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần giảm một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát chỉ đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo tại điểm s khoản 1 Điều 51 mà không áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là thiếu sót.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Số pháo hoa còn lại sau giám định là 4,65 kg (03 khối) đã được niêm phong, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Các vật chứng khác cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.
[7] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật;
[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và hình phạt là có cơ sở một phần, phù hợp với pháp luật, tình tiết vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2. Về Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Đức T hình phạt chính là hình phạt tiền với số tiền 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu) đồng.
3. Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Số pháo hoa còn lại sau giám định là 4,65 kg (03 khối) đã được niêm phong, là vật cấm tàng trữ, lưu hành.
(Vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0006003 ngày 24/6/2024 giữa Cơ quan hỗ trợ tư pháp và thi hành án hình sự và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước).
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Đức T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Học |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước về hình sự: buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
