Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày 05-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Duy Trâm.

Ông Bùi Ngọc Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương – Thư Ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Tuyên – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

1/ Họ và tên: Hoàng T V; Sinh năm 1993 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện nay: không có chỗ ở ổn định; nghề nghiệp không có nghề nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn) 11/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không có; quốc tịch Việt Nam; con ông Hoàng Xuân V1 và bà Nguyễn Thị C; gia đình có 07 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất là bị cáo sinh năm 1993; bị cáo chưa có vợ, chưa có con; tiền án: không có; tiền sự: không có. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

1/ Vợ chồng anh Hoàng Mạnh C1; sinh năm 1991 và chị Trần Thị Ngọc H; sinh năm 1996. Anh C1 và chị H có mặt.

Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Người làm chứng:

1/ Chị Hoàng Thị Bích H1; sinh năm 1986. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

2/ Chị Võ Thị N; sinh năm 1985. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 31/12/2023 bị cáo Hoàng T Vũ phụ dọn dẹp đám cưới cho anh trai ruột là anh Hoàng Mạnh C1. Bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tiền mừng đám cưới nên đến khoảng 11 giờ cùng ngày lợi dụng việc mọi người đang tổ chức lễ cưới ngoài sân bị cáo đi vào mở cửa phòng ngủ và chui xuống gầm giường nằm, sau đó sợ bị phát hiện nên bị cáo chui vào trong tủ gỗ trong phòng ngủ. Khoảng 10 phút sau chị Hoàng Thị Bích H1 (Là chị ruột của V) và Võ Thị N (Chị dâu của V) vào phòng. Bị cáo biết là những người này đưa B đựng phong bì tiền mừng cưới vào phòng ngủ. Sau khi những người trên đi ra ngoài và nghe tiếng khóa cửa trong thì bị cáo đi ra khỏi tủ gỗ, trộm lấy Balo màu đen đựng phong bì tiền mừng cưới, lấy áo khoác màu đen của bị cáo bọc lấy Balo để tránh bị phát hiện. Sau đó bị cáo mở cửa phòng và đi ra ngoài cổng. Bị cáo một mình điều khiển xe mô tô hiệu Wave (Là xe của gia đình đưa cho mượn sử dụng làm phương tiện đi lại). Bị cáo đi xe mô tô tới xã L- huyện B thì gửi xe tại 01 tiệm sửa xe và nói gửi để sửa xe, sau đó gọi điện cho anh Hoàng Mạnh C1 đến lấy xe về. Bị cáo tiếp tục bắt xe khách đến khách sạn Cô T1 tại Thành phố B. Tại phòng nghỉ Vũ xé các phong bì ra, kiểm đếm số phong bì khoảng hơn 300 cái với số tiền mặt là 130.000.000 đồng. Sau khi xé các phong bì bằng giấy Vũ nhét lại các vỏ phong bì vào B. V nhét quần Jeans dài màu xanh, áo sơ mi trắng loại dài tay (Là trang phục Vũ mặc lúc thực hiện hành vi trộm cắp) vào trong Balo. Đến tối cùng ngày V đem vứt số. đồ đạc trên vào thùng rác gần bờ hồ N thuộc Thành phố B. Số tiền có được Bị cáo Hoàng T V dùng vào việc trả nợ tiền vay trên các mạng xã hội, tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng hết 130.000.000 đồng. Sau đó bị cáo tiếp tục sống lang thang tại Thành phố B. Đến ngày 06/02/2024, khi bị cáo đang đi tìm mua ma túy để sử dụng thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện D phát hiện triệu tập làm việc.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 nón lưỡi trai màu trắng, trước nón có dòng chữ adidas;
  • - 01 đôi giày nam màu xám, đế bằng cao su màu trắng;
  • - 01 áo khoác dài tay màu đen, sau lưng áo có dòng chữ SUPREME.
  • - 01 thẻ nhớ màu đen có chứa 01 đoạn Video dài 01 phút 10 giây ghi lại diễn biến sự việc.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Tuấn V2 chưa bồi thường và anh Hoàng Mạnh C1 không yêu cầu bồi thường.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Hoàng Tuấn V2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên (BL 110-123).

Tại Bản cáo trạng số 51/CTr-VKS, ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố để xét xử bị cáo Hoàng Tuấn V2 về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Sau khi công bố bản cáo trạng số 51/CTr-VKS, ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh. Đại diện Viện kiểm sát không thay đổi, bổ sung gì. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38, 50 Điều của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn V2 từ 30 đến 36 tháng tù. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về án phí hình sự sơ thẩm và xử lý vật chứng.

Bị cáo Hoàng Tuấn V2 trình bày: Bị cáo thống nhất với kết quả điều tra, Cáo trạng và việc áp dụng pháp luật, mức đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát, không ý kiến gì. Sau khi lấy được ba lô đựng tiền, bị cáo bóc phong bì và đếm được 130.000.000đ. Số tiền này bị cáo tiêu dùng cá nhân, một phần mua ma túy và trả nợ. Bị cáo đã biết việc trộm cắp là sai trái. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp một mình, không có người giúp sức. Các tang vật là quần áo, nón, giày bị cáo không yêu cầu nhận lại. Bị cáo chỉ bộc phát nhất thời, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại anh Hoàng Mạnh C1 trình bày: Anh và bị cáo có quan hệ là anh em ruột. Tài sản bị trộm cắp là tiền mừng cưới của anh và chị Trần Thị Ngọc H. Số tiền bị mất không xác định được là bao nhiêu vì chưa kiểm đếm. Tuy nhiên tại phiên tòa tôi thống nhất xác nhận số tiền bị mất là 130.000.000đ. Vì là anh em ruột trong gia đình, nên về phần trách nhiệm dân sự, thay mặt vợ chồng anh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì cả và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại chị Trần Thị Ngọc H trình bày: Thống nhất như lời trình bày của anh Hoàng Mạnh C1. Không yêu cầu bị cáo bồi thường gì cả. Đồng ý xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người làm chứng chị Hoàng Thị Bích H1 trình bày: Chị là người cất ba lô màu đen đựng tiền mừng cưới vào tủ gỗ. Khi phát hiện mất tiền, chị có được xem lại Camera ghi hình, chị xác định người ôm ba lô màu đen, đội mũ vải trắng, áo sơ mi trắng, quần jean màu xanh, mang giầy màu xám chính là bị cáo Hoàng Tuấn V2.

Người làm chứng chị Võ Thị N trình bày: Lời trình bày của chị Hoàng Thị Bích H1 và cháu Nguyễn Thị Ngọc H2 là đúng. Chị N cũng đã được xem lại Camera ghi hành, chị xác định người thanh niên ôm ba lô màu đen, đội mũ vải trắng, áo sơ mi trắng, quần jean màu xanh, mang giày màu xám đi ra khỏ nhà chính là bị cáo Hoàng Tuấn V2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì. Do đó các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của những người tham gia tố tụng cùng với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì thấy rằng. Vì mong muốn nhanh chóng có tiền tiêu sài, bị cáo Hoàng Tuấn V2 đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút, chiếm đoạt chính số tiền mừng cưới của vợ chồng anh trai ruột của mình. Tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, với lỗi cố ý trực tiếp, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và điều luật quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đại diện viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng là đúng tội danh và Điều luật áp dụng.

[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo có bố ruột là người có công với cách mạng, đang được hưởng trợ cấp hàng tháng do nhiễm chất độc hóa học. Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 khi xem xét lượng hình đối với các bị cáo.

[3.3] Về nhân thân: Căn cứ lý lịch bị can thể hiện thể hiện bị cáo Hoàng Tuấn V2 không có tiền án, không có tiền sự.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

[4.1] Bị cáo nhận thức và biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật tuy nhiên vì mong muốn nhanh chóng có tiền tiêu sài, có tiền trả nợ và mua ma túy mà bị cáo vẫn bất chấp thực hiện việc trộm cắp tài sản của chính người thân trong gia đình mình. Bị cáo có sự lựa chọn thời điểm đông người đang ăn cưới, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ tài sản, trốn vào trong tủ để thực hiện hành vi trộm cắp. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ và còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tuy nhiên người bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo phạm tội lần đầu. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn phù hợp để bị cáo có thời gian cải tạo, nhận ra sai lầm của bản thân.

[4.2] Do Hội đồng xét xử đã nhận định áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là vợ chồng anh Hoàng Mạnh C1; và chị Trần Thị Ngọc H không yêu cầu bồi thường gì cả, nên Hội đồng xét xử không xem xét phần trách nhiệm dân sự là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng. Xét giá trị sử dụng còn lại, cần xử lý như sau:

[6.1] Tịch thu, tiêu hủy 01 nón lưỡi trai màu trắng, trước nón có dòng chữ adidas; 01 đôi giày nam màu xám, đế bằng cao su màu trắng; 01 áo khoác dài tay màu đen, sau lưng áo có dòng chữ SUPREME.

[6.2] Lưu theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ màu đen có chứa 01 đoạn Video dài 01 phút 10 giây ghi lại diễn biến sự việc.

[6.3] Tang vật có đặt điểm như biên bản giao nhận giữa Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng và cơ quan thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

[7] Về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo Bản án theo quy định.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Tuấn V2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn V2 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/02/2024.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết.

4. Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, xử lý như sau:

4.1. Tịch thu, tiêu hủy 01 nón lưỡi trai màu trắng, trước nón có dòng chữ adidas; 01 đôi giày nam màu xám, đế bằng cao su màu trắng; 01 áo khoác dài tay màu đen, sau lưng áo có dòng chữ SUPREME.

4.2. Tang vật có đặt điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện D và cơ quan thi hành án Dân sự huyện D.

4.3. Lưu theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ màu đen có chứa 01 đoạn Video dài 01 phút 10 giây ghi lại diễn biến sự việc (bút lục số 79).

5. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Hoàng Tuấn V2 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo Hoàng Tuấn V2, người bị hại là vợ chồng anh Hoàng Mạnh C1; và chị Trần Thị Ngọc H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - Đội CSTHAHS-HTTP CA huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - UBND xã Hòa Nam;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Cường Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger