Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 51/2024/DS-ST

Ngày: 04/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Chu Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Đê

2. Bà Phan Thị Bảo Ngọc

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa nhân dân thành phố Bà Rịa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nhung – Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa nhân dân thành phố B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 172/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QÐST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam) (sau đây viết tắt là MAFC)

Trụ sở tại: Số I P, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H, chức vụ: Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Công ty L1 (D.V LAW), địa chỉ trụ sở: Số B L, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Cồ Lê H1, chức vụ: Giám đốc

(Theo Hợp đồng ủy quyền số 09/2024/GUQ-MAFC ngày 02/5/2024)

Ủy quyền tham gia tố tụng lại cho: Ông Nguyễn Đức T, chức vụ: Nhân viên Công ty L1. Địa chỉ liên hệ: Số B L, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền số 29/GUQ-2024 ngày 05/7/2024 của Giám đốc Công ty L1). (Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Ông Phan Minh L, sinh năm 1977, địa chỉ: Tổ F, ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt lần hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2024, bản tự khai và các buổi làm việc tại Tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 26/10/2022 Công ty T1 (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là “Công ty T1”) ký Hợp đồng tín dụng số: 3844798 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng”) về việc cấp tín dụng cho ông Phan Minh L với khoản vay trị giá: 31.980.000 đồng (Ba mươi mốt triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng chẵn), trong đó bao gồm: 30.000.000 đồng tiền vay và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay với lãi suất 44%/năm. Theo đó, ông Phan Minh L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 2.025.695 đồng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 05/12/2022 đến ngày 05/11/2024.

Sau khi ký kết, Công ty T1 đã tiến hành giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Phan Minh L với hình thức chuyển khoản qua số tài khoản ngân hàng mà mà ông Phan Minh L đã cũng cấp. Qua đó, ông Phan Minh L có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền hàng tháng cho phía Công ty T1 theo đúng thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng tín dụng trên

Tuy nhiên, từ ngày 09/9/2023, ông Phan Minh L đã ngừng thanh toán khoản vay cho phía Công ty T1 mặc dù phía Công ty đã nhiều lần nhắc nhở cũng như gọi điện liên hệ để đề nghị ông Phan Minh L thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình nhưng không nhận được bất kỳ phản hồi tích cực nào từ phía ông Phan Minh L về việc thanh toán khoản vay đã quá hạn trên. Tính đến thời điểm hiện tại, ông Phan Minh L chỉ thanh toán được 10 kỳ với tổng số tiền 20.430.000 đồng (Hai mươi triệu, bốn trăm ba mươi nghìn đồng chẵn).

Việc ông Phan Minh L cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay theo thỏa thuận trong “Hợp đồng tín dụng” mà đôi bên ký kết đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T1.

Vì vậy, Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án là buộc ông Phan Minh L phải thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T1 (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi, phí) tính đến ngày 04/9/2024 với tổng số tiền là 33.735.461 đồng (Ba mươi ba triệu, bảy trăm ba mươi lăm nghìn, bốn trăm sáu mươi mốt đồng); trong đó: Tiền gốc là 22.404.464 đồng, tiền lãi là 6.019.424 đồng; tiền lãi trên nợ gốc quá hạn là 4.950.301 đồng và tiền lãi chậm trả là 361.273 đồng0.

Bị đơn vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến.

Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

  • Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và các quy định theo Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn thực hiện chưa đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý:

Ngày 22/5/2024, Công ty T1 (Việt Nam) có đơn khởi kiện ông Phan Minh L để yêu cầu Tòa án buộc ông L trả số tiền theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do đó, Tòa án xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện và cung cấp địa chỉ của ông Phan Minh L theo hợp đồng đã ký kết với MAFC và căn cước công dân mang tên Phan Minh L. Xác minh tại Công an xã T xác định ông Phan Minh L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ tổ F, ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhưng đã bán nhà chuyển đi nơi khác, không rõ nơi cư trú hiện nay. Việc bị đơn đang có nghĩa vụ đối với MAFC nhưng thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới của mình theo quy định được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án thụ lý vụ án và giải quyết theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng nên Tòa tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ngày 26/10/2022, Công ty T1 (Việt Nam) và ông Phan Minh L có ký kết Hợp đồng tín dụng số 3844798 với các nội dung:

  • Số tiền vay: 31.980.000 (Ba mươi mốt triệu, chín trăm tám mươi nghìn) đồng, trong đó bao gồm: Khoản vay 30.000.000 đồng. Bảo hiểm 1.980.000 đồng.
  • Thời hạn của khoản vay: 24 tháng tính từ ngày tiếp theo Ngày giải ngân đến ngày 05/11/2024. Ngày thanh toán hàng tháng 05.
  • Mục đích vay: Mua hàng.
  • Lãi suất cho vay: Từ kỳ thanh toán tứ 1 đến kỳ thanh toán thứ 20, lãi suất cho vay được áp dụng là 3.67%/tháng, tương ứng 44%/năm. Từ kỳ thanh toán tứ 21 đến kỳ thanh toán thứ 24, lãi suất cho vay được áp dụng là 0%/tháng.

Trường hợp đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và lãi theo thỏa thuận thì ngoài việc trả lãi trên nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận thì khách hàng còn phải chịu thêm các khoản tiền bao gồm:

Tiền lãi trên dư nợ gốc quá hạn: 150% x (Lãi suất tại thời điểm chuyển nợ quá hạn) x (dư nợ gốc quá hạn) x (số ngày trễ hạn/365).

Tiền lãi chậm trả: 10% x (số dư lãi chậm trả) x (số ngày trễ hạn/365)

  • Tài sản đảm bảo: Không.

Hợp đồng tuân thủ đúng quy định pháp luật, đảm bảo đủ điều kiện có hiệu lực nên xác định hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký kết (26/10/2022).

[2.2] Quá trình thực hiện, MAFC đã giải ngân số tiền 31.980.000 đồng cho ông Phan Minh L thông qua số tài khoản 129091977 – Ngân hàng TMCP N – chi nhánh V do ông L cung cấp và ông Phan Minh L đã thực hiện việc thanh toán tiền vay theo đúng thỏa thuận được 10 kỳ liên tiếp với tổng số tiền 20.430.000 (hai mươi triệu, bốn trăm ba mươi nghìn) đồng.

[2.3] Theo trình bày và các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ thì ông Phan Minh L đã có sự vi phạm về nghĩa vụ thanh toán nợ. Cụ thể, đến kỳ thanh toán thứ 11, kể từ ngày 09/9/2023, ông Phan Minh L đã không tiếp tục thực hiện việc thanh toán nợ cho MAFC theo các thỏa thuận.

Tính đến ngày 04/9/2024, ông Phan Minh L còn nợ MAFC số tiền tổng cộng là 33.735.461 (ba mươi ba triệu, bảy trăm ba mươi lăm nghìn, bốn trăm sáu mươi mốt) đồng; trong đó: Nợ gốc là 22.404.464 đồng; nợ lãi: 6.019.424 đồng; lãi trên nợ gốc bị quá hạn: 4.950.301 đồng; lãi chậm trả: 361.273 đồng.

Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên MAFC có quyền yêu cầu khởi kiện đối với ông L. Đối chiếu số liệu về dư nợ gốc, lãi mà MAFC yêu cầu ông H2 phải thanh toán là phù hợp với các điều khoản đã thỏa thuận trong Hợp đồng, phù hợp với quy định pháp luật dân sự, tín dụng, xác định yêu cầu khởi kiện của MAFC đối với ông Phan Minh L, yêu cầu buộc ông L phải thanh toán số tiền tính đến ngày 04/9/2024, là 33.735.461 (ba mươi ba triệu, bảy trăm ba mươi lăm nghìn, bốn trăm sáu mươi mốt) đồng; trong đó: Nợ gốc là 22.404.464 đồng; nợ lãi: 6.019.424 đồng; lãi trên nợ gốc bị quá hạn: 4.950.301 đồng; lãi chậm trả: 361.273 đồng là có cơ sở nên chấp nhận.

[2.4] Tại đơn khởi kiện ngày 22/5/2024, ngoài yêu cầu liên quan đến việc buộc ông Phan Minh L phải trả số tiền nợ gốc, lãi, phí tính đến ngày 03/5/2024 là 29.293.950 (hai mươi chín triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, chín trăm năm mươi) đồng, MAFC còn yêu cầu ông L phải tiếp tục chịu số tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 03/5/2024 đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay nói trên. Quá trình tố tụng tại Tòa, người đại diện hợp pháp của MAFC xác định MAFC chỉ yêu cầu ông Phan Minh L phải trả tiền gốc, lãi phát sinh đến ngày kết thúc phiên tòa sơ thẩm, không yêu cầu gì thêm. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận của Hợp đồng đã ký kết, phù hợp với quy định của pháp luật, có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên ông Phan Minh L phải chịu án phí dân sự theo quy định. Công ty T1 được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 3 Điều 40, Điều 463; Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (Việt Nam) đối với ông Phan Minh L.

2. Buộc ông Phan Minh L phải trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền là 33.735.461 (ba mươi ba triệu, bảy trăm ba mươi lăm nghìn, bốn trăm sáu mươi mốt) đồng.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền trên, thì bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí:

Ông Phan Minh L phải nộp 1.686.773 (một triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn, bảy trăm bảy mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 732.349 (bảy trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm bốn mươi chín) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001314 ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.

4. Nguyên, bị đơn, người đại diện hợp pháp có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - TAND Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Chi cục THADS thành phố Bà Rịa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Chu Thị Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 51/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 26/10/2022 Công ty T1 về việc cấp tín dụng cho ông Phan Minh L với khoản vay trị giá: 31.980.000 đồng, trong đó bao gồm: 30.000.000 đồng tiền vay và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay với lãi suất 44%/năm. Theo đó, ông Phan Minh L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 2.025.695 đồng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 05/12/2022 đến ngày 05/11/2024. Sau khi ký kết, Công ty T1 đã tiến hành giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Phan Minh L với hình thức chuyển khoản qua số tài khoản ngân hàng mà mà ông Phan Minh L đã cũng cấp. Qua đó, ông Phan Minh L có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền hàng tháng cho phía Công ty T1 theo đúng thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng tín dụng trên Tuy nhiên, từ ngày 09/9/2023, ông Phan Minh L đã ngừng thanh toán khoản vay cho phía Công ty T1 mặc dù phía Công ty đã nhiều lần nhắc nhở cũng như gọi điện liên hệ để đề nghị ông Phan Minh L thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình nhưng không nhận được bất kỳ phản hồi tích cực nào từ phía ông Phan Minh L về việc thanh toán khoản vay đã quá hạn trên. Tính đến thời điểm hiện tại, ông Phan Minh L chỉ thanh toán được 10 kỳ với tổng số tiền 20.430.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger