|
TAND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 04-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh
Ông Dương Kim Sơn
Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Phùng Anh Tuấn- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
1.Họ và tên: Hoàng Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1990;
Nơi ĐKHKTT: Số nhà G, tổ dân phố M, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang;
Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Bố đẻ: Hoàng Văn H1, sinh năm 1962 (đã chết); Mẹ đẻ: Hoàng Thị Đ, sinh năm 1961; Gia đình có hai anh em, bản thân bị cáo là thứ hai; Vợ: Nguyễn Thùy T, sinh năm 1995 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn H 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2015/HSST ngày 26/11/2015 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2017, chấp hành xong án phí và nghĩa vụ thi hành án dân sự ngày 27/5/2016.
- Ngày 08/3/2019, bị Công an thành phố B, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Ngày 27/7/2021, bị Công an thành phố B, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ 03/02/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Chu Trường A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 2001;
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn;
Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Bố đẻ: Chu Trường L (đã chết); Mẹ đẻ: Vy Thị H2, sinh năm 1979; Gia đình có hai anh em, bản thân bị cáo là thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ 03/02/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B có mặt tại phiên tòa.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vàng Thị S (thường gọi là “Bông”), sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 30/01/2024, trong quá trình kiểm tra, xác minh vụ việc có dấu hiệu về tội “Môi giới mại dâm” xảy ra tại phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Vàng Thị S, sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả Vàng Thị S dương tính với chất ma tuý. Quá trình làm việc, Vàng Thị S khai nhận đã sử dụng ma tuý cùng Chu Trường A, sinh năm 2001, trú tại thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn tại quán K thuộc thôn T, xã T, huyện L do Hoàng Văn H, sinh năm 1990 trú tại số nhà G, tổ dân phố M, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang làm chủ.
Ngày 02/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành kiểm tra hành chính chỗ ở của Hoàng Văn H, đồng thời triệu tập Chu Trường A cùng Hoàng Văn H để làm việc. Tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Chu Trường A và Hoàng Văn H, kết quả cả Chu Trường A và Hoàng Văn H đều dương tính với chất ma tuý (loại MDMA, MET).
Cùng ngày 02/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với nơi làm việc của Chu Trường A tại quán K thuộc thôn T, xã T, L, Bắc Giang, quá trình khám xét, tổ công tác phát hiện, thu giữ tại bàn gỗ quầy lễ tân tầng 1 quán karaoke S1:
- - 01 (một) hộp bằng kim loại màu xanh, bên trong có:
- + 01 (một) túi nilon màu trắng viền đỏ, bên trong chứa 02 (hai) túi nilon màu trắng viền đỏ bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý.
- + 01 (một) túi nilon màu trắng viền đỏ, bên trong chứa 06 (sáu) viên nén màu trắng nghi là ma tuý, trên bề mặt của các viên nén đều có chữ “Tesla”.
- - Thu giữ tại phòng ngủ tầng một:
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động iphone màu vàng đồng, số IMEI: 357569695556350, IMEI2: 357569695567175 (của Hoàng Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội).
- + 01 (một) quyển sổ ghi nội dung theo dõi gồm các mục: ngày, quán, nhân viên, giờ vào, giờ nghỉ, tổng giờ, tổng tiền, ghi chú.
- + 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 02 (hai) thẻ điện thoại nhãn hiệu Mobifone; 02 (hai) cân tiểu ly; 02 (hai) bình kim loại màu xanh.
- + 02 (hai) vỏ chai nhựa nhãn hiệu Lavie, trên nắp các chai có gắn các ống nhựa màu trắng, xanh, vàng, da cam.
- + 01 (một) ống thuỷ tinh có một đầu hình tròn; 09 (chín) túi nilon màu trắng viền khoá màu đỏ; 05 (năm) túi nilon màu trắng viền khoá màu xanh; 02 (hai) bật lửa màu đỏ; 01 (một) đèn nháy hình cầu; 01 (một) bộ loa màu trắng nhãn hiệu Microlab.
- - Thu giữ tại bàn gỗ đặt trong phòng khách chỗ ở của Hoàng Văn H:
- + 01 (một) đĩa màu trắng; 01 (một) bật lửa màu đỏ.
- + 41 (bốn mươi mốt) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa, 06 (sáu) đoạn ống hút màu đen.
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động Redmi màu đen, số IMEI1: 863780069268228, IMEI2: 863780069268236 (của Chu Trường A sử dụng vào việc phạm tội).
Ngày 02/02/2024, nhận thấy hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên Chu Trường A và Hoàng Văn H đã đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Ngày 03/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã bàn giao vụ việc trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để tiếp tục giải quyết theo thẩm quyền.
Tại kết luận giám định số 325/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“- Chất tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, loại Ketamine, có tổng khối lượng 1,545 gam.
- 06 (sáu) viên nén màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, loại MDMA, có tổng khối lượng 1,943 gam."
Tại kết luận giám định số 773/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“- Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine trên 01 (một) đĩa sứ màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu đen, không xác định được khối lượng.
- Trong 01 (một) túi nilon màu đen:
+ Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine trên 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 02 (hai) đoạn ống nhựa màu đen; 02 (hai) thẻ nhựa, trên thẻ nhựa có chữ mobifone và các túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, không xác định được khối lượng.
+ Tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine trên 02 (hai) vỏ chai nhựa màu trắng có nắp đậy, trên mỗi nắp đậy có gắn các đoạn ống nhựa và 01 (một) cóng bằng thuỷ tinh, không xác định được khối lượng.”
Quá trình điều tra xác định nội dung diễn biễn vụ án như sau: Khoảng giữa tháng 6/2023, Hoàng Văn H thuê lại nhà (quán K cũ) của bà Lưu Thị L1, sinh năm 1958 ở thôn T, T, huyện L để ở. Đến tháng 01/2024, Chu Trường A đến ở cùng H để đưa đón nhân viên phục vụ quán hát Karaoke. Hoằng khai nhận, ngày 25/01/2024, H đến quán Bar “TOP NEW” ở thành phố T, tỉnh Bắc Ninh chơi cùng một số người bạn. Đến khoảng 02 giờ ngày 26/01/2024, khi ra về, H có xin Nguyễn Tấn H3, sinh năm khoảng 1989 ở quận L, thành phố Hà Nội (là bạn của H quen biết qua việc cùng chơi game, H không biết chính xác thông tin về người này) một ít ma tuý về để sử dụng, H3 đồng ý và cho H 03 (ba) túi ma tuý “Ke” (tức ma tuý Ketamine), 01 (một) túi đựng 07 viên ma tuý “Kẹo” (tức ma tuý dạng thuốc lắc MDMA). Sau đó, H cầm theo số ma tuý đó đi về chỗ ở thuộc thôn T, xã T, huyện L. Tại đây, H đã tự sử dụng một nửa viên ma tuý “kẹo” và một ít ma tuý “Ke”. Sau khi sử dụng xong, H cho tất cả số ma tuý còn lại vào trong một hộp sắt rồi để ở phía sau máy in đặt trên bàn trong phòng khách.
Khoảng 21 giờ ngày 27/01/2024, Chu Trường A nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Vàng Thị S (thường gọi là “Bông”), rủ S lên chơi tại chỗ ở của Trường A, S đồng ý. Sau đó, S đi xe taxi lên chỗ của Trường A, Trường A đón S tại cửa và đưa S vào phòng ngủ của mình. Sau đó, T1 Anh đi lên phòng khách gặp H hỏi xin ma tuý “Kẹo” và ma tuý “Ke” để Trường A sử dụng, H đồng ý và chỉ chỗ để ma tuý, Trường A tự đi ra phía sau máy tính đặt trên bàn trong phòng khách lấy nửa viên ma tuý “Kẹo” và một túi nilon đựng ma tuý “Ke” cầm vào phòng ngủ rồi đưa cho S nửa viên ma tuý “Kẹo”. S cầm ma túy cho vào miệng uống cùng với nước ngọt. Sau đó, Trường A rủ S sang phòng khác có loa, đèn để nghe nhạc nên cả hai cùng đi sang phòng để đồ. Tại đây, Trường A lấy đĩa, ống hút, thẻ cứng rồi bỏ ma tuý “Ke” ra “xào” (chế biến ma tuý rồi chia thành từng đường để sử dụng). Sau khi chế biến ma tuý xong, T1 Anh dùng ống hút sử dụng ma tuý trước (hít qua mũi). Sử dụng xong, Trường A đưa cho S để sử dụng nhưng S không sử dụng. Đến sáng ngày 28/01/2024, S đi về Thành phố B.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 13/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Chu Trường A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 56; khoản 5 Điều 65; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt Hoàng Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 08 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội với hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2024.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt Chu Trường A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2024.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra vị đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý về vật chứng, tiền án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra tại phiên tòa.
[2] Về hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của người liên quan phù hợp với tang vật thu giữ được về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 27/01/2024, tại quán K thuộc thôn T, T, huyện L, Hoàng Văn H có hành vi tổ chức cho Chu Trường A sử dụng trái phép chất ma túy, bản thân Chu Trường A có hành vi tổ chức cho Vàng A S2 sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, Hoàng Văn H còn có hành vi tàng trữ trái phép 1,545 gam ma túy loại Ketamine và 1,943 gam ma túy loại MDMA, mục đích để sử dụng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự tội và hình phạt đối với bị cáo H được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự; đối với bị cáo Chu Trường A được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Việc các bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong tình hình xã hội hiện nay, tệ nạn ma túy đang là vấn đề nhức nhối cho xã hội và ngày càng có diễn biến phức tạp, nó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phá vỡ hạnh phúc gia đình, suy thoái đạo đức xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ chức cho sử dụng trái phép chất ma túy là trái pháp luật và tính nguy hiểm của nó nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục các bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú, nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo.
Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo H là đối tượng nghiện ma túy có nhân thân xấu, năm 2015 từng bị xét xử về tội phạm sử dụng trái phép chất ma túy, năm 2019 và 2021 bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nay lại phạm tội chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục cải tạo, nên cần phải xử lý đối với bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội và buộc bị cáo H cách ly khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục riêng đối với bị cáo và góp phần răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Ngoài ra tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách do vậy cần chuyển hình phạt tù cho hưởng án treo sang hình phạt tù giam buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung cho cả hai bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với bị cáo Chu Trường A có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự phạm tội lần đầu do vậy cần áp dụng cho bị cáo hình phạt nhẹ hơn bị cáo H và buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục riêng đối với bị cáo và góp phần răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Do hiện nay các bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX Quyết định tạm giam các bị cáo theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 255 của BLHS phạt bổ sung bằng tiền đối bị cáo H và bị cáo A để sung công quỹ Nhà nước. Xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với các đối tượng Nguyễn Tấn H3 là người Hoàng Văn H khai đã cho H ma tuý, H không biết thông tin cụ thể của H3 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Hoàng Văn H, Chu Trường A, Vàng Thị S, ngày 25/4/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi này, HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong bằng dấu đỏ của Công an xã T, L, Bắc Giang có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, bên trong có 01 (một) chiếc điện thoại di động iphone màu vàng đồng, số IMEI: 357569695556350, IMEI2: 357569695567175 (của Hoàng Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội) cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong bằng dấu đỏ của Công an xã T, L, Bắc Giang có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, bên trong có 01 (một) chiếc điện thoại di động Redmi màu đen, số IMEI1: 863780069268228, IMEI2: 863780069268236 (của Chu Trường A sử dụng vào việc phạm tội) nay cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 02 (hai) bình bằng kim loại màu xanh; 01 bộ loa màu trắng nhãn hiệu Microlab; 01 đèn nháy hình cầu; 01 thùng cát tông dán kín niêm phong bằng dải niêm phong có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia có đóng dấu của Công an xã T, L, Bắc Giang và Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong thùng cát tông có: Mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Ketamine còn lại sau giám định 1,490 gam; mẫu viên nén màu trắng là ma túy, loại MDMA còn lại sau giám định 1,864 gam; vỏ bao gói sau giám định; 01 (một) quyển sổ; 01 túi ni lon màu đen, bên trong đựng 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 01 (một) túi nilon màu đen bên trong đựng: 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 02 đoạn ống nhựa màu đen; 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong đựng 02 vỏ chai nhựa màu trắng có nắp đậy trên mỗi nắp đậy có gắn các ống nhựa; 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong đựng 02 (hai) bật lửa màu đỏ; 02 (hai) thẻ nhựa, trên thẻ nhựa có chữ Mobifone, 01 gói giấy màu trắng, bên trong đựng các tú nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, 01 gói giấy màu trắng bên trong đựng 01 cóng bằng thủy tinh; 02 (hai) cân tiểu ly điện tử; 01 phong bì, bên ngoài phong bì có ghi “41 túi nilon”, “06 (sáu) ống hút màu đen” bên trong phong bì có 41 ( bốn mươi mốt) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, 06 ( sáu) đoạn ống hút màu đen là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nay cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hoàng Văn H và Chu Trường A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của các bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề xuất mức hình phạt áp dụng đối với từng bị cáo, xử lý vật chứng, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55; Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Hoàng Văn H 02 (H4) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tổng hợp hình phạt của hai tội với hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 06 (sáu) năm tù về các tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2024.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Chu Trường A 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2024.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo Hoàng Văn H 01 (một) phong bì niêm phong bằng dấu đỏ của Công an xã T, L, Bắc Giang có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, bên trong có 01 (một) chiếc điện thoại di động iphone màu vàng đồng, số IMEI: 357569695556350, IMEI2: 357569695567175, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Chu Trường A 01 (một) phong bì niêm phong bằng dấu đỏ của Công an xã T, L, Bắc Giang có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, bên trong có 01 (một) chiếc điện thoại di động Redmi màu đen, số IMEI1: 863780069268228, IMEI2: 863780069268236.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bình bằng kim loại màu xanh; 01 thùng cát tông dán kín niêm phong bằng dải niêm phong có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia có đóng dấu của Công an xã T, L, Bắc Giang và Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong thùng cát tông có: Mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Ketamine còn lại sau giám định 1,490 gam; mẫu viên nén màu trắng là ma túy, loại MDMA còn lại sau giám định 1,864 gam; vỏ bao gói sau giám định; 01 (một) quyển sổ; 01 túi ni lon màu đen, bên trong đựng 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 01 (một) túi nilon màu đen bên trong đựng: 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 02 đoạn ống nhựa màu đen; 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong đựng 02 vỏ chai nhựa màu trắng có nắp đậy trên mỗi nắp đậy có gắn các ống nhựa; 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong đựng 02 (hai) bật lửa màu đỏ; 02 (hai) thẻ nhựa, trên thẻ nhựa có chữ Mobifone; 01 gói giấy màu trắng, bên trong đựng các tú nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa; 01 gói giấy màu trắng bên trong đựng 01 cóng bằng thủy tinh; 01 phong bì, bên ngoài phong bì có ghi “41 túi nilon”, “06 (sáu) ống hút màu đen” bên trong phong bì có 41 ( bốn mươi mốt) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, 06 ( sáu) đoạn ống hút màu đen; 02 (hai) cân tiểu ly điện tử; 01 bộ loa màu trắng nhãn hiệu Microlab; 01 đèn nháy hình cầu;
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Hoàng Văn H và Chu Trường A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn H- TTSDTPCMT
