|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 51/2024/HS-PT Ngày 04-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc
Ông Phạm Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/HSPT ngày 19/3/2024 đối với bị cáo Phan Văn H do có kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
* Bị cáo có kháng cáo:
Phan Văn H, sinh năm 1974, tại tỉnh Đồng Nai; địa chỉ: Khu phố B, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Họ và tên cha: Lê Đình H1 (đã chết); Họ và tên mẹ: Phan Thị B (đã chết); H2 và tên vợ: Văn Xuân M, sinh năm 1977; Bị cáo có một người con sinh năm 1999;
Tiền sự: Không;
Tiền án: 05 tiền án:
- Ngày 17/10/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ngày 13/02/2008 chấp hành xong hình phạt tù; chưa bồi thường dân sự 144.300.000 đồng; chưa đóng án phí dân sự 8.240.000 đồng).
- Ngày 19/2/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/6/2009).
- Ngày 18/8/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 02/6/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/02/2015).
- Ngày 03/4/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/9/2021; chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm 1.750.000 đồng, án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng và bồi thường cho bị hại 35.000.000 đồng).
Bị cáo bị bắt ngày 27/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1988; nơi đăng ký thường trú: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: Số B C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
* Những người tham gia tố tụng khác:
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu Q, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Q: ông Bùi Xuân T, sinh năm 1982; địa chỉ: khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 19/8/2022, Phan Văn H đi xe buýt số 10 từ thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến ngã ba D, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì xuống xe rồi tiếp tục bắt xe buýt Phú T1 – Vũng Tàu đến thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khoảng 10 giờ cùng ngày, H xuống xe đi bộ tìm kiếm nhà dân có sơ hở để trộm cắp tài sản. Trên đường đi, H nhặt được 01 thanh gỗ dài khoảng 01m ở dọc đường nên cầm theo. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, H phát hiện nhà bà Nguyễn Thị Thu Q ở Khu phố H, thị trấn N, huyện C đang đóng cửa, H đi dọc bên hông ra phía sau nhà thì thấy có một cửa ra vào bên ngoài bằng kính, bên trong là cửa xếp bằng kim loại, H dùng thanh gỗ đập bể lớp cửa kính bên ngoài rồi cậy gãy thanh kim loại của cửa xếp bên trong để tạo ra một khoảng trống rồi chui vào nhà (quá trình chui vào nhà H bị thanh kim loại cứa vào vùng bắp tay trái gây chảy máu). H đi vào bên trong phòng ngủ rồi mở cửa tủ đựng quần áo ra, kéo hộc tủ nhỏ bên dưới phát hiện có tiền nên lấy bỏ vào bịch nylon màu đen (có sẵn tại nhà bà Q) rồi đi bộ đến vòng xoay thị trấn N đón xe buýt về lại nhà mình ở thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quá trình điều tra, Phan Văn H liên tục thay đổi lời khai về số tài sản chiếm đoạt được. Ban đầu, H khai nhận trộm cắp được số tiền mặt là 350.000.000 đồng cùng một số nữ trang; sau đó, H thay đổi lời khai chỉ trộm cắp được 150.000.000 đồng. Khoảng 01 đến 02 ngày sau, H liên lạc với người đàn ông tên T2 (không rõ họ tên, địa chỉ; không nhớ cách thức liên lạc) để lấy trang Web đánh bạc (không nhớ tên trang Web, mật khẩu). H về nhà lấy máy Laptop đăng nhập vào trang Web do T2 cung cấp rồi đánh bạc bằng hình thức đánh bài cào và thua hết 150.000.000 đồng nên H đã sử dụng hết số tiền trộm cắp được để trả nợ do thua bạc.
Ngày 19/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tiến hành khám nghiệm hiện trường; thu giữ 01 thanh kim loại kích thước 58cm x 4,5cm x 7,5cm, bên trên dính dung dịch màu nâu sẫm (nghi là máu). Ngày 25/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Phan Văn H; Tang vật thu giữ gồm: 01 áo thun tay ngắn sọc đen xám hiệu TL New Fashion; 01 áo thun tay ngắn sọc xanh trắng xám hiệu Vietphap; 01 áo thun ngắn tay màu xám hiệu Melan; 01 quần sọc ngắn màu xanh đen hiệu Size Fox; 01 quần sọc ngắn màu xám hiệu TCS Classic Wear; 01 quần sọc ngắn màu xám nâu hiệu Blueberry; 01 đôi dép màu mâu đen hiệu Trúc Vân và 01 đồng hồ đeo tay kim loại màu vàng; 01 giấy biên nhận thế chấp xe mô tô biển số 60F4-138.07; 01 hợp đồng vay thế chấp số tiền 12.000.000đ; 01 sổ hộ khẩu mang phô tô số [...]; 01 đơn đề nghị cấp giấy Chứng minh nhân dân mang tên Phan Văn H và 01 giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù của Phan Văn H ngày 29/9/2021. Ngày 27/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B bàn giao Phan Văn H cùng tang vật, tài liệu thu giữ được như trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để giải quyết theo thẩm quyền (bút lục số 356 đến 360).
Tại Bản kết luận giám định số 4704+4829/KL-KTHS ngày 31/8/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Các dấu vết màu nâu sẫm dính trên thanh kim loại (ký hiệu A1) gửi giám định là máu người. Phân tích gen (ADN) từ các dấu vết máu này được 01 kiểu gen, trùng với kiểu gen đối tượng Phan Văn H.
- Lưu các kiểu gen này trong hồ sơ giám định của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh” (bút lục số 291).
Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số 101/BB-HĐĐGTS ngày 18/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C xác định trị giá của tài sản bị trộm cắp (không thu hồi được) gồm:
- Vàng 18 K gồm có: 01 vòng bảng hàng rào hoa văn (1,63 chỉ); 01 dây khoen tròn lớn (nặng 3,07 chỉ ); 01 vòng tay Model bản (nặng 5,87 chỉ); 01 lắc xích tròn (nặng 1,69 chỉ); 01 nhẫn đính đá hồng (nặng 1,206 chỉ); 01 nhẫn kiểu (nặng 1,04 chỉ); 01 nhẫn kim tiền (nặng 0,39 chỉ); 01 nhẫn hạt tím (nặng 0,68 chỉ); 01 vòng hạt tím (nặng 3,4 chỉ); 01 dây chuyền (nặng 4,64 chỉ); 01 nhẫn (nặng 1,3 chỉ); 01 dây bị (nặng 5,4 chỉ); 01 nhẫn hột cao (nặng 0,92 chỉ); 01 khoen lưới (nặng 0,87 chỉ); 01 nhẫn vàng (nặng 0,58 chỉ);
- Kim cương: 01 vỏ bông kim cương nặng 3,6 ly; (Viên chủ: 0,181ct; 3.62-3.64 x 2.23mm và 0,178ct; 3.66-2,69 x 2.21mm), 20 viên 1,3 ly và 40 viên 1,7 ly);
- Vàng 18K (610) gồm có: 01 vòng kết (nặng 8,55 chỉ); 01 nhẫn (nặng 2,56 chỉ); 01 đôi bông tai (nặng 0,57 chỉ); 01 mặt dây chuyền (nặng 1,39 chỉ); 01 nhẫn (nặng 0,7 chỉ); 01 bông tai (nặng 0,98 chỉ); 01 dây con trai (nặng 0,93 chỉ); 01 dây chuyền (nặng 1,04 chỉ); 01 vòng (nặng 3,61 chỉ); 01 nhẫn (nặng 0,65 chỉ); 01 mặt dây chuyền (nặng 0,38 chỉ); 01 đôi bông (nặng 0,84 chỉ); 01 nhẫn (nặng 0,77 chỉ);
- 01 lắc tay, vàng 24K (99%, nặng 3 chỉ); 01 kiềng tay trơn, vàng 24K (98%, nặng 1 chỉ); 01 vòng tay (vàng 10K, nặng 2,01 chỉ);
- Bạch kim gồm: 01 dây xoắn (nặng 40,01gam); 01 bông hoa + nhẫn hột cao Bạch kim (nặng 19,40 gam); 01 vòng bi 3D ý (nặng 19,48 gam).
- Tổng giá trị tài sản trộm cắp ngày 19/8/2022 là 384.509.733 đồng (bút lục số 249 đến 258).
Theo tỷ giá ngoại tệ của Ngân hàng N thì 2.500 USD Mỹ là 58.162.500 đồng (01 USD =23.265 đồng); 200 CAD là 3.568.800 đồng (01 CAD= 17.844 đồng); 100 EURO là 2.327.900 đồng (01 EUR = 23.279 đồng) (bút lục số 262).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 165/BB-HĐĐGTS ngày 16/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận trị giá của tài sản bị trộm cắp (không thu hồi được) gồm:
02 nhẫn tì hươu, bằng vàng 610 (trọng lượng: 0,84 chỉ và 0,52 chỉ); 01 đôi bông tai tòn ten, bằng vàng 18K, trọng lượng: 1,086 chỉ; 01 đôi bông tai tòn ten khoen, bằng vàng 610, trọng lượng: 0,945 chỉ; 01 vòng bi, bằng vàng 610, trọng lượng: 5,21 chỉ; 01 mặt bông, bằng vàng 610, trọng lượng: 4,08 chỉ; 01 vòng bi, bằng vàng 610, trọng lượng: 3,33 chỉ; 01 đôi bông tòng ten dạng 04 chấu, bằng vàng 610, trọng luợng: 1,279 chỉ; 01 nhẩn nữ hoàng đá pazet, bằng bạch kim, trọng lượng 7,72 gam; 02 vòng lưới lò xo, bằng bạch kim (cùng trọng lượng 10,82 gam); 01 bông hai vòng tròn, bằng bạch kim, trọng lượng 5,58 gam; 01 nhẫn 4 hàng hình tấm-kim tiền, bằng bạch kim, trọng lượng 4,76 gam; 01 vòng bi đồng tiền 3D Ý, bằng bạch kim, trọng lượng 17,51 gam; Tổng giá trị tài sản này tại thời điểm ngày 19/8/2022 là 148.001.000 đồng (bút lục số 618-623).
Quá trình điều tra, Phan Văn H có lúc thừa nhận, có lúc không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản tại nhà bà Q. Đồng thời, H khai số tiền 52.000.000 đồng gửi cho bà C để nhờ chuyển tiền cho P, K, A để trả nợ và 30.000.000 đồng dùng để mua điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max là do H vay mượn của Bùi Duy K1 (sinh năm: 1992, trú tại 1 D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội) và Mai Tuấn A (sinh năm: 1995, trú tại S M, quận N, thành phố Hà Nội). H vay tiền của người này trả cho người kia rồi vay lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, thành phố Hà Nội ghi lời khai của K1 nhưng đến nay chưa có kết quả; Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ghi lời khai của Anh thì nhận được kết quả tại địa chỉ S38 M, quận N, thành phố Hà Nội không có ai tên Mai Tuấn A (bút lục 446 đến 449).
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; các điểm b, h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H 15 (mười lăm năm) tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 27/8/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự:
Buộc bị cáo Phan Văn H bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thu Q số tiền 310.000.000 đồng, nhưng trừ đi số tiền mà Cơ quan điều tra thu giữ của bà Nguyễn Thị C là 52.000.000 đồng. Như vậy, H còn phải trả cho bà Q số tiền là 258.000.000₫ (hai trăm, năm mươi tám triệu đồng).
Buộc bị cáo Phan Văn H phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền 52.000.000 đồng (năm mươi hai triệu đồng).
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu Q số tiền 52.000.000 đồng (năm mươi hai triệu đồng) (Giấy nộp tiền vào tài khoản tạm thu của Chi cục T3 ngày 09/5/2023).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý các vật chứng khác, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
3. Ngày 16/02/2024 bị cáo Phan Văn H kháng cáo kêu oan.
4. Ngày 07/02/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C kháng cáo yêu cầu trả lại số tiền 52.000.000 (năm mươi hai triệu) đồng mà bà đã nộp cho cơ quan điều tra.
5. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phan Văn H 15 (mười lăm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết gì mới nên đề nghị giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo.
Đối với kháng cáo của bà C là có căn cứ nên đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm, trả lại cho bà C 52.000.000 đồng (năm mươi hai triệu đồng).
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt;
- Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C; sửa bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng trả lại cho bà C 52.000.000 (năm mươi hai triệu đồng) đồng.
5. Tranh luận và đối đáp tại phiên tòa:
5.1. Bị cáo Phan Văn H tranh luận:
Bị cáo chỉ trộm cắp 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) chứ không phải 310.000.000 đồng (ba trăm mười triệu đồng) nên xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
5.2. Đại diện Viện kiểm sát đối đáp:
Bản án sơ thẩm quy kết bị cáo trộm cắp số tiền 310.000.000 (ba trăm mười triệu đồng) là hoàn toàn có căn cứ. Do đó, đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
5.3. Đại diện theo ủy quyền của bị hại ông Bùi Xuân T phát biểu quan điểm:
Ông T nhất trí với bản án sơ thẩm nên đề nghị giữ nguyên bản án số 20/2024/HSST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức.
5.4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C phát biểu quan điểm:
Số tiền 52.000.000 đồng (năm mươi hai triệu đồng) thu giữ là tiền của bà C nộp theo yêu cầu của cơ quan điều tra, còn số tiền bị cáo nhờ bà C chuyển giùm cho người khác thì bà C đã dùng tài khoản của mình chuyển tiền. Bà C không biết số tiền bị cáo yêu cầu chuyển là tiền trộm cắp mà có nên bà C yêu cầu trả lại số tiền 52.000.000 đồng (năm mươi hai triệu đồng) cho bà C.
6. Bị cáo nói lời sau cùng,
chỉ thừa nhận trộm cắp 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) chứ không phải 310.000.000 đồng (ba trăm mười triệu đồng) nên mong Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật xem xét đúng hành vi và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo trên là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về kháng cáo của bị cáo Phan Văn H:
[2.1] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập, Biên bản kết luận định giá tài sản số 101/BB-HĐĐGTS ngày 18/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C; Bản kết luận giám định số 4704+4829/KL-KTHS ngày 31/8/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh; Biên bản khám nghiệm hiện trường và Biên bản xác định hiện trường do Cơ quan điều tra lập; Lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Lời khai của bị cáo và bản tự khai do bị cáo viết vào các ngày 26/8/2022, 27/8/2022, 28/8/2022 cùng các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa của bị cáo, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 19/8/2022, tại bà Nguyễn Thị Thu Q ở khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phan Văn H dùng 01 thanh gỗ dài khoảng 01m đập bể lớp cửa kính bên ngoài, cậy gãy thanh kim loại của cửa xếp rồi đột nhập vào nhà lén lút trộm cắp được số tiền 310.000.000 đồng bao gồm 07 cọc tiền (gồm 6 cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 cọc tiền trị giá 10.000.000 đồng gồm các mệnh giá 10.000 đồng, 20.000 đồng và 50.000 đồng). Lời khai này của H phù hợp với lời khai của bị hại Q. Bị cáo cho rằng việc trước đây bị cáo thừa nhận việc trộm cắp tại nhà bị hại là do bị đánh đập và nhớ nhầm; tại toà bị cáo chỉ thừa nhận trộm cắp 150.000.000 đồng chứ không phải là 310.000.000 đồng nhưng không có chứng từ, tài liệu gì chứng minh; trong khi đó bị cáo có rất nhiều tiền án, rất nhiều lần làm việc với cơ quan điều tra; do đó lý do bị cáo nêu ra như trên là không có căn cứ.
Hành vi của bị cáo Phan Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 05 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; đồng thời, bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, lấy việc phạm tội làm nguồn sống chính nên Toà án cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và có tính chất chuyên nghiệp nên áp dụng các điểm b, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Không.
[2.3] Về hình phạt:
Cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét toàn diện hành vi của bị cáo, không có tình tiết giảm nhẹ và 02 (hai) tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết nào mới theo quy định của pháp luật làm căn cứ bào chữa cho hành vi của mình. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C:
Bị cáo thừa nhận có nhờ bà Nguyễn Thị C chuyển giùm số tiền 52.000.000 đồng cho Trần Trọng P1 (50.000.000 đồng); Mai Tuấn A và Bùi Duy K1 mỗi người 1.000.000 đồng là người quen của bị cáo không liên quan đến bà C, bằng cách bị cáo giao tiền mặt cho bà C và bà C dùng tài khoản của mình chuyển cho những người trên theo yêu cầu của bị cáo và bà C đã thực hiện việc chuyển số tiền 52.000.000 đồng nêu trên. Xét thấy hành vi này phù hợp với lời khai của bị cáo, bà C, ông P1 và chứng từ cơ quan điều tra thu thập được. Bà C không biết số tiền trên do trộm cắp mà có và cũng không hưởng lợi gì đối với số tiền trên, do đó việc cơ quan điều tra yêu cầu bà C nộp lại số tiền 52.000.000 đồng và Toà án cấp sơ thẩm buộc giao số tiền 52.000.000 đồng mà bà C đã nộp cho bị hại là chưa phù hợp, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà C. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo và hoàn trả lại số tiền 52.000.000 đồng cho bà C.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật; kháng cáo của bà C được chấp nhận nên bà C không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn H; Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đối với bị cáo và sửa phần xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự.
1.1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Phan Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 27/8/2022, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
1.2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự:
Buộc bị cáo Phan Văn H bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thu Q số tiền 310.000.000 đồng (ba trăm mười triệu đồng).
Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
1.3. Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền 52.000.000 đồng (năm mươi hai triệu đồng) (theo Giấy nộp tiền vào tài khoản tạm thu của Chi cục T3 ngày 09/5/2023).
Tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max, số I: 358442713170811 của bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy 01 mẫu A1 niêm phong sau khi đã giám định do Phân viện KHHS tại Tp . đóng gói niêm phong ngày 13/01/2023; 01 áo thun ngắn tay màu xám hiệu Melan; 01 quần sọc ngắn màu xanh đen hiệu Size Fox; 01 đôi dép màu mâu đen hiệu Trúc Vân.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu ĐứT3 ngày 09/5/2023).
Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện C đang quản lý.
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm:
Bị cáo Phan Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hiếu |
Bản án số 51/2024/HS-PT ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 51/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn H Trộm cắp tài sản
