Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày 03 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thanh Việt

2. Ông Trần Hùng Bích

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An

Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2024/TLST-HS, ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thanh P, sinh ngày 07 tháng 3 năm 1984 tại thành phố L, tỉnh An Giang. Cư trú: số 623/23, tổ D, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (chết) và bà Đỗ Thị S; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Có 01 tiền án, tại bản án hình sự sơ thẩm số 145/2021/HS-ST, ngày 19/11/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 20/12/2022 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: không; nhân thân: tại bản án hình sự sơ thẩm số 112/2007/HSST ngày 26/7/2007, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm về tội “Trộm cắp tài sản”; tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2010/HSST ngày 31/5/2010, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 01 năm tù cho hưởng án treo của bản án số 112/2007/HSST ngày 26/7/2007, hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 02 năm 06 tháng tù, ngày 25/4/2012 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và tại quyết định số 120/QĐ-TA, ngày 22/12/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng, ngày 20/5/2018 chấp hành xong quyết định; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/01/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị hại: Em Nguyễn Lâm Phúc V, sinh ngày 06/01/2007; Cư trú: số C, đường N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt, có đơn xin vắng).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1983 và bà Lâm Thị Diễm P1, sinh năm 1985; Cùng cư trú: số C, đường N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (là cha mẹ bị hại, vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đỗ Thị S, sinh năm 1952; Cư trú: Số F, tổ D, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

2. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1969; Cư trú: Tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Thái A (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07 tháng 01 năm 2024, Trần Thanh P điều khiển xe mô tô biển số 67LA-055.34 đến quán trà “T" thuộc tổ H, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang để bán vé số. Tại đây, P thấy trên xe mô tô biển số 52P5-1198 đang dựng trước cửa quán, có để 01 ba lô và nón bảo hiểm của em Nguyễn Lâm Phúc V nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Quan sát xung quanh thấy không có ai, P liền điều khiển xe đến gần lấy trộm ba lô, nón bảo hiểm của em V rồi điều khiển xe về khu vực phường M, thành phố L, kiểm tra bên trong ba lô thì thấy có 2.683.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y36, P lấy tiền và điện thoại này để vào túi xách của P; còn ốp lưng, sim điện thoại, ba lô và nón bảo hiểm thì ném bỏ; sau đó P điều khiển xe đến khu vực phường M tiếp tục bán vé số. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, em V phát hiện mất trộm tài sản nên đến Công an phường M trình báo sự việc.

Qua xác minh, xác định Trần Thanh P đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của em V, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tạm giữ P để điều tra xử lý.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y36, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô biển số 67AL - 055.34, đã qua sử dụng và số tiền 2.683.000 đồng. Sau khi xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Lâm Phúc V: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y36, màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền 2.683.000 đồng.

Kết luận giám định số 02/KL-HĐĐGTS, ngày 30 tháng 01 năm 2024 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y36, màu xanh trị giá 5.751.000 đồng; 01 sim điện thoại di động Vinaphone số 0913.152.xxx trị giá 50.000 đồng; 01 ốp lưng điện thoại trị giá 9.000 đồng; 01 nón bảo hiểm hiệu nón sơn trị giá 450.000 đồng; 01 ba lô trị giá 256.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 6.516.000 đồng.

Kết luận giám định số 144/KL-KTHS, ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: xe mô tô biển số 67LA-055.34 có số khung, số máy không bị: cắt, hàn, đục, sửa, tẩy xoá, hoen gỉ.

Kết luận giám định số 133/KL-KTHS, ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: Trích xuất 11 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa CD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang, chi tiết thể hiện trong Phụ lục gồm 05 trang A4.

Cáo trạng số: 59/CT-VKS-HS, ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, truy tố Trần Thanh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Thanh P từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại em Nguyễn Lâm Phúc V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên không xét đến.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Trả lại cho bà Đỗ Thị S 01 xe mô tô biển số 67AL - 055.34, đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh P khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của em V như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn, hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại và không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị S trình bày: Xe mô tô biển số 67LA-055.34 là của bà S mua làm phương tiện sinh hoạt với giá 3.000.000 đồng, do đã lâu nên không nhớ mua của ai, chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 07/01/2024, P điều khiển xe này đi bán vé số, bà S không biết việc P sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, nên yêu cầu được nhận lại xe.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B trình bày: Năm 2014, ông B mua xe mô tô biển số 67LA-055.34, với giá 11.000.000 đồng và đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau đó, ông đã bán xe này lại cho một người đàn ông, không rõ họ tên, địa chỉ với giá 5.000.000 đồng; đối với xe này ông không có ý kiến và không yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị hại và người làm chứng vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của những người tham gia tố tụng nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07 tháng 01 năm 2024, Trần Thanh P đã lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để lén lút lấy trộm 01 ba lô và nón bảo hiểm của em Nguyễn Lâm Phúc V với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 9.199.000 đồng. Hành vi của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự có khung hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm tù (tội phạm ít nghiêm trọng).

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện hành vi nơi có nhiều phương tiện và người qua lại, thể hiện bị cáo rất manh động, liều lĩnh và xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về nhân thân: Bị cáo đã hai lần bị Tòa án kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản” và 01 lần bị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 01 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy", chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại em Nguyễn Lâm Phúc V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã giao trả 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y36, màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền 2.683.000 đồng cho em Nguyễn Lâm Phúc V theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu, ngày 04/3/2024, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với, xe mô tô biển số 67AL - 055.34 thuộc quyền sở hữu của bà Đỗ Thị S, bà S không biết việc bị cáo sử dụng xe này làm phương tiện phạm tội, nên cần trả lại cho bà S.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thanh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07/01/2024).

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Trả lại cho bà Đỗ Thị S 01 (một) xe mô tô biển số 67AL - 055.34, đã qua sử dụng (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thanh P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - Nhà tạm giữ CA.TPLX;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Chiền

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Hà Thị Chiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger