|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/DS-PT Ngày 02 tháng 8 năm 2024 “V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Anh.
Các Thẩm phán: Bà Điêu Thị Bích Lượt;
Ông Nguyễn Hán Hưởng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 49/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2024/DS-ST ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 56/2024/QĐ-PT ngày 08/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Dương Anh P, sinh năm 1967
- Địa chỉ: Số A, phố M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1961
- Địa chỉ: Tổ C, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn K – bị đơn.
(Ông P, ông K đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết tại Tòa án, ông Dương Anh P trình bày:
Ngày 30/3/2020, ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1961 có vay của ông số tiền là 520.000.000đ (Năm trăm hai mươi triệu đồng), hẹn ngày 01/4/2021 trả đầy đủ. Đến hẹn trả nợ, ông K không trả được cho ông số tiền đã vay. Ông đã nhiều lần gặp trực tiếp ông K và yêu cầu trả nợ nhưng không được. Ông K vay tiền ông có viết giấy biên nhận, giấy biên nhận này do ông K tự viết và ký tên.
Ông vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông K phải trả cho ông số tiền 520.000.000đ (Năm trăm hai mươi triệu) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 02/4/2021 cho đến khi vụ án được giải quyết. Tiền lãi tính theo quy định pháp luật.
Quan hệ giữa ông K và anh M là anh em ruột, hiện tại anh M đang bị cơ quan Cảnh sát điều tra truy tố theo khoản 4 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên lời khai của anh M không khách quan, trung thực vì lý do anh M có nhận thêm bao tiền đi nữa thì vẫn không tăng thêm tội.
Giấy vay tiền trên thực tế chỉ có ông K giao dịch vay tiền của ông nên giấy vay tiền chỉ có một mình ông K ký nhận không liên quan gì đến anh M nên ông khẳng định ông K phải có trách nhiệm trả tiền cho ông. Còn quan hệ giữa ông K và anh M là anh em ruột cho nhau vay tiền hay góp vốn đầu tư kinh doanh việc đó hoàn toàn không liên quan đến ông.
Bị đơn ông Nguyễn Văn K trình bày:
Ngày 30/3/2020, ông có việc cần khoản tiền dùng cho việc riêng, được sự giới thiệu của M là em trai ông đến nhà ông P. Khi đến nhà ông P, ông P đưa ra giấy được sự hướng dẫn của M, ông P, ông viết giấy vay của ông P số tiền 520.000.000đ (Năm trăm hai mươi triệu đồng), thời gian vay tiền từ ngày 30/3/2020 đến ngày 01/4/2021. Sau đó M hỏi ông P đưa tiền, ông P nói “Đợi vợ về đi ngân hàng chứ tiền không có ở nhà”. Ông P nói ông viết giấy vay tiền nhưng M phải chịu trách nhiệm vì ông P không biết ông là ai. Đến hơn 16h chiều vợ ông P nếu có về thi đi Ngân hàng cũng hết giờ không thể giải quyết được việc, ông có điện thoại nên đi về trước.
Đến ngày 08/3/2023 ông P đến hỏi ông số tiền vay 30/3/2020 ông mới giật mình không hiểu sự việc sảy ra.
Nay ông P có đơn khởi kiện ông đề nghị trả số tiền 520.000.000đ, ông có ý kiến như sau:
Ngày 30/3/2020 ông có viết giấy vay tiền của ông P xong ông P chưa giao tiền cho ông do sơ suất của ông do công việc không phải đi về không lấy lại giấy vay tiền.
Tại sao ông P cho ông vay tiền từ 30/3/2020 đến 01/4/2021 mà đến tận ngày 08/3/2023 ông P mới đi đòi tiền ông?
Nếu ông vay hộ M là việc riêng tại sao ông P tự chuyện tiền cho M mà ông không được biết, mặc khác ông P chuyển tiền cho M thì phải có ủy quyền hoặc có sự chứng kiến của ông. Phải chăng có thỏa thuận nào khác mà ông không được biết.
Khi nào ông bán được đất thì ông sẽ trả tiền cho ông P.
Tại Bản án sơ thẩm số: 15/2024/DS-ST ngày 08/4/2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số: 09/2024/QĐ-SCBSBA ngày 24/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Áp dụng: Điều 357, Điều 463, Điều 465, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1,3 Điều 273, khoản 1 Điều 244, Điều 266, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Anh P.
Buộc ông Nguyễn Văn K phải có nghĩa vụ trả cho ông Dương Anh P số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 08/4/2024 là: 676.997.260đ (Sáu trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn hai trăm sáu mươi đồng), trong đó 520.000.000đ (Năm trăm hai mươi triệu) tiền gốc và tiền lãi 156.997.260đ (một trăm năm mươi sáu triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn hai trăm sáu mươi đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật, nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, bị đơn ông Nguyễn Văn K có đơn kháng cáo với nội dung: không đồng ý với toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn K giữ nguyên nội dung kháng cáo và các căn cứ kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn K. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 08/4/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của ông Nguyễn Văn K trong hạn luật định, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Ngày 30/3/2020, ông Nguyễn Văn K viết Giấy biên nhận vay tiền với nội dung ông vay của ông P số tiền là 520.000.000 đồng và hẹn ngày 01/4/2021 trả đầy đủ. Ông K là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ông thừa nhận văn bản này là do ông viết, có ký và ghi rõ họ tên dưới mục “Người viết”. Ông K kháng cáo cho rằng ông không được nhận số tiền 520.000.000 đồng từ ông P mà chỉ là người vay hộ ông Nguyễn Văn M1 là em trai ông nhưng không đưa ra được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh.
Mặt khác, ông M1 có lời khai xác nhận việc ông K vay tiền của ông P còn ông M1 vay lại số tiền trên từ ông K chứ không vay của ông P. Đây là quan hệ khác giữa ông K và ông M1, không liên quan đến việc vay tiền giữa ông P và ông K theo Giấy biên nhận vay tiền ngày 30/3/2020.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định có việc vay nợ giữa ông Dương Anh P và ông Nguyễn Văn K trên thực tế, từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P và buộc ông K trả số tiền 520.000.000 đồng cho ông P là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Nội dung kháng cáo này của ông K không được chấp nhận.
Về lãi suất: Tại Giấy biên nhận vay tiền các bên không thỏa thuận về lãi suất nên cần xác định đây là hợp đồng vay không có lãi. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự và khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm để tính lãi đối với số tiền nợ gốc ông K chưa trả cho ông P kể từ thời điểm chậm trả đến thời điểm xét xử sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật. Nội dung kháng cáo này của ông K cũng không được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Văn K, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Kháng cáo không được chấp nhận nhưng ông K là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn K.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 15/2024/DS-ST ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Án phí phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn K được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Viết Anh |
Bản án số 51/2024/DS-PT ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 51/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Anh P - Nguyễn Văn K - Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
