|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST Ngày: 01 – 7 – 2024 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Hồ Thanh Trí
- 2. Ông Trần Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2024/TL.ST-HNGĐ, ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 88/QĐST - HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Phan Thị D, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Các đương sự vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phan Thị D trình bày:
Bà và ông Nguyễn Thanh T1 quen biết nhau, sau một thời gian tìm hiểu ông bà tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới năm 2011 và đăng ký kết hôn năm 2011. Cuộc sống vợ chồng lúc đầu rất hạnh phúc, nhưng đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung nên đã ly thân từ tháng 11 năm 2014 đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh T1.
Về con chung: Bà và ông Nguyễn Thanh T1 có 01 con chung tên Nguyễn Thị Chúc L (nữ) sinh ngày 16/9/2011. Hiện con chung đang sống cùng bà, khi ly hôn bà D yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Thanh T1 dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T1 đối với vụ án nêu trên.
Tại phiên tòa, bà Phan Thị D có yêu cầu vắng mặt.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Nhận thấy hôn nhân giữa bà Phan Thị D và ông Nguyễn Thanh T1 đã rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà D được ly hôn với ông T1; Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Chúc L (nữ) sinh ngày 16/9/2011 cho bà D được tiếp tục nuôi dưỡng, bà D không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho ông Nguyễn Thanh T1 không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phan Thị D khai không có, ông Nguyễn Thanh T1 chưa ghi nhận được ý kiến nên đề nghị tách ra chưa giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
Về án phí: Nguyên đơn bà Phan Thị D phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Phan Thị D do phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân và gia đình mà không thể hàn gắn tình cảm được với nhau nên bà D nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T1, do ông T1 có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt bà D là có căn cứ. Ông Nguyễn Thanh T1 dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt ông T1 là có căn cứ.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án:
[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Hôn nhân giữa bà Phan Thị D và ông Nguyễn Thanh T1 được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Nguyên nhân ly hôn bà D cho rằng cuộc sống hôn nhân có nhiều bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, không còn hạnh phúc nên đã ly thân từ tháng 11 năm 2014 đến nay. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng, ông T1 dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên hòa giải không thành, bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện với ông T1, cho thấy hôn nhân của bà D và ông T1 đã rơi vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho bà Phan Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T1.
[3.2] Về phần con chung, Hội đồng xét xử xét thấy bà Phan Thị D và ông Nguyễn Thanh T1 có 01 con chung tên Nguyễn Thị Chúc L (nữ) sinh ngày 16/9/2011. Hiện nay cháu L đang sống chung với bà D. Bà D có yêu cầu nuôi cháu L. Tại biên bản lấy khai ngày 20/5/2024 cháu L có nguyện vọng sống cùng mẹ. Nhằm ổn định tâm lý và ổn định chỗ ở nên Hội đồng xét xử quyết định giao con chung Nguyễn Thị Chúc L cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Thanh T1 không ai được quyền cản trở.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Phan Thị D chưa yêu cầu nên ông Nguyễn Thanh T1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[3.4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phan Thị D khai không có, ông Nguyễn Thanh T1 chưa ghi nhận được ý kiến nên tách ra chưa giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
[3.5] Về án phí: Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bà Phan Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị D.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phan Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T1.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Chúc L (nữ) sinh ngày 16/9/2011 cho bà Phan Thị D tiếp tục nuôi dưỡng, bà D không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho ông Nguyễn Thanh T1 không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chưa giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị D phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Phan Thị D đã nộp theo biên lai số 0004424 ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí (bà D đã nộp xong).
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Á |
Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN