TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HSST Ngày: 18/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Định;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Xuân Mai và bà Nguyễn Thị Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Anh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thị T, sinh năm 1980; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT và cư trú: C, thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Bùi Văn N (đã chết); con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1947; Chồng: Nguyễn Văn B, sinh năm 1976; con: Có 02 con: Lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 604 lập ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội và Trích lục tiền án, tiền sự số: 6934616/2025/PV06 ngày 14/5/2025 tại phòng hồ sơ nghiệp vụ, công an thành phố H.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 09/4/2025 đến ngày 15/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1984; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm D, thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1957; con bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1987; con: Có 03 con: Lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 603 lập ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội và Trích lục tiền án, tiền sự số: 6934190/2025/PV06 ngày 28/4/2025 tại phòng hồ sơ nghiệp vụ, công an thành phố H.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 09/4/2025 đến ngày 15/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Đinh Văn Q, sinh năm: 1987; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm F, thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Đinh Vinh Q1, sinh năm 1955; con bà: Hà Thị Đ1, sinh năm 1955; Vợ: Phùng Thị Lan A, sinh năm 1991; con: Có 02 con: Lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 603 lập ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội và Trích lục tiền án, tiền sự số: 6934190/2025/PV06 ngày 28/4/2025 tại phòng hồ sơ nghiệp vụ, công an thành phố H.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 09/4/2025 đến ngày 15/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Lưu Văn T4, sinh năm: 1983; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm E, thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lưu Vĩnh T5, đã chết; con bà: Lê Thị H, sinh năm 1954; Vợ: Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1984; con: Có 02 con: Lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 603 lập ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội và Trích lục tiền án, tiền sự số: 6934190/2025/PV06 ngày 28/4/2025 tại phòng hồ sơ nghiệp vụ, công an thành phố H.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 09/4/2025 đến ngày 15/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Ngọc Q2 - Trưởng thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 09/04/2025, Bùi Thị T thuê Nguyễn Văn C, Lưu Văn T4 ở cùng thôn đến nhà T tại Xóm D, thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội để thi công tầng 2 cho gia đình T. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, khi C và T4 nghỉ giải lao, T rủ đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh “ba cây” thì C và T4 đồng ý. Sau đó, T cùng C, T4 đi vào gian buồng ở tầng 1 của T để đánh bạc. Tại đây, T lấy một bộ bài tú – lơ – khơ đã cũ có sẵn ở nhà mình ra, trên giường đã được trải sẵn 01 chiếc chăn nhung, rồi T, C, T4 cùng ngồi xuống giường đánh bạc. Các bị can thống nhất mức đánh “Chống cửa” (mức đánh thấp nhất) là 50.000 đồng, “Chín”, “Mười” nhân đôi, “Sáp” nhân ba. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Đinh Văn Q đến thi công nhà cho T. Tại đây, Q thấy T và C, T4 đang đánh bạc ăn tiền nên Q ngồi xuống giường tham gia đánh bạc cùng các bị can. Trước khi đánh bạc, T có 4.000.000 đồng, C có 8.000.000 đồng, T4 có khoảng 750.000 đồng, Q có khoảng 2.000.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi các bị can đang đánh bạc sát phạt nhau được thua bằng tiền thì bị tổ công tác Công an xã C, huyện M phát hiện, bắt quả tang.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, các bị can Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q, Lưu Văn T4 đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên; các bị can Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q, Lưu Văn T4 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- + Thu giữ tại chiếu bạc số tiền: 14.700.000 đồng;
- + 36 quân bài tú – lơ – khơ gồm các quân bài từ A đến 9;
- + 01 chiếc chăn nhung có hoa văn màu đỏ (đã cũ).
Toàn bộ số vật chứng nêu trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKS ngày 04/6/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã truy tố: Các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q và Lưu Văn T4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q và Lưu Văn T4 phạm tội “Đánh bạc”.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt:
- - Bị cáo Bùi Thị T từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Bị cáo Nguyễn Văn C từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Bị cáo Đinh Văn Q 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Bị cáo Lưu Văn T4 từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- * Về vật chứng vụ án: Áp dụng: Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 14.700.000 đồng tiền ngân hàng N6.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 36 quân bài tú – lơ – khơ gồm các quân bài từ A đến 9;
- + 01 chiếc chăn nhung có hoa văn màu đỏ (đã cũ).
- * Ngoài ra, các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
- * Tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q và Lưu Văn T4 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đầy đủ cơ sở để xác định: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/04/2025, tại nhà ở của Bùi Thị T ở Xóm D, thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội, Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q, Lưu Văn T4 đã có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh (ba cây). Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi các bị can đang đánh bạc sát phạt nhau được thua bằng tiền thì bị tổ công tác Công an xã C, huyện M phát hiện, bắt quả tang. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc được xác định là: 14.700.000 đồng.
Như vậy, có đầy đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q và Lưu Văn T4 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cụ thể khoản 1 Điều 321 quy định:
"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000đ đến dưới 50.000.000đ... thì bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, hành vi đó còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, nên đối với các bị cáo cần phải được đưa ra xét xử thật nghiêm minh trước pháp luật, nhằm giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Trong vụ án này Bùi Thị T giữ vai trò là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phương tiện, nhà ở của mình và cùng Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q, Lưu Văn T4 thực hiện hành vi đánh bạc tích cực, sát phạt nhau bằng tiền nên các bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội của mình gây ra tương ứng với số tiền tham gia đánh bạc và vai trò của mình.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- - Về nhân thân của các bị cáo:
- Các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q và Lưu Văn T4 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự;
- - Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ:
- + Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q và Lưu Văn T4 đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có nơi cư trú rõ ràng nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; gia đình bị cáo Q và T4 có công với cách mạng nên xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật đối với các bị cáo. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q và Lưu Văn T4 ra khỏi đời sống xã hội mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành người tốt, người có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, cần được xem xét để đưa ra mức hình phạt phù hợp đối với từng bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nhưng các bị cáo T, C và T4 đều làm tự do thu nhập thấp, không ổn định, kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo. Cần phạt bổ sung bị cáo Q3 khoản tiền sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng vụ án:
- - Số tiền 14.700.000 đồng tiền ngân hàng N6 là tang vật của vụ án, được xác định là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - 36 quân bài tú – lơ – khơ gồm các quân bài từ A đến 9; 01 chiếc chăn nhung có hoa văn màu đỏ (đã cũ) là tang vật của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Vấn đề khác: Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố:
Các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q và Lưu Văn T4 phạm tội “Đánh bạc”.Áp dụng:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
- - Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
- - Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn Q 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Phạt bổ sung bị cáo 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
- - Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn T4 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn C và Lưu Văn T4 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách;
Giao bị cáo Đinh Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách;
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo pháp luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 14.700.000 đồng tiền ngân hàng N6.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 36 quân bài tú – lơ – khơ gồm các quân bài từ A đến 9;
- + 01 chiếc chăn nhung có hoa văn màu đỏ (đã cũ).
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh số 78/THADS-CA ngày 04/6/2025).
Về án phí:
Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án".Các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn C, Đinh Văn Q và Lưu Văn T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Văn Định |
Bản án số 51/2025/HSST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về đánh bạc
- Số bản án: 51/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T cùng ĐB phạm tội đánh bạc
