Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TC

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HSST

Ngày 15-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Duôi và bà Lường Thị Thảo.

Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Danh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Ông Lầu A Thống - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Lò Văn V

Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 21/11/1989 tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản CM, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn B, sinh năm 1957 và bà Lò Thị T, sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án: Tại bản án số 77/2006/HSST, ngày 18/8/2006 bị Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án số 49/2009/HSST, ngày 22/4/2009 bị Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xử phạt 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án số 10/2014/HSST, ngày 25/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xử phạt 40 (bốn mươi) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, (chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không; nhân thân: Tại quyết định số 48/QĐ-TA, ngày 18/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện TC ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 20 (hai mươi) tháng; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 11 năm 2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 08/11/2024, Tổ công tác Công an huyện TC, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản CM, xã TL, huyện TC, phát hiện bắt quả tang Lò Văn V có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroine (theo Lò Văn V khai là Heroine).

Hồi 18 giờ 30 phút ngày 08/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định, kết quả: Số chất bột cục màu trắng nghi là Heroine có trong gói nilon màu trắng có khối lượng 0,25 gam. Trích rút toàn bộ 0,25 gam, ký hiệu V1 gửi giám định loại và chất ma túy. Còn lại 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào một trong bì, dán kín, mép dán đóng 02 hình dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC để lưu hồ sơ vụ án.

Kết luận giám định số: 2025/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu V1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,25 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Lò Văn V là 0,25 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 08/11/2024, Lò Văn V đi bộ một mình từ nhà ở bản CM, xã TL, huyện TC xuống xã BP, huyện TC với mục đích để tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi Lò Văn V đi đến khu vực bản CT, xã BP, huyện TC, Lò Văn V gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái (Lò Văn V không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa Heroine với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, V cất gói ma túy vào trong túi quần phía trước bên trái V đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi Lò Văn V vừa về đến nhà và chuẩn bị lấy gói ma túy vừa mua được ra để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã TL, huyện Thuận Châu đến yêu cầu kiểm tra và phát hiện bắt quả tang. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn V cùng vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số: 21/CT- VKS-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đã truy tố bị cáo Lò Văn V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lò Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tổ bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn V từ 05 (năm) năm tù đến 06 (sáu) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đối với 0,25 gam ma túy loại Heroine đã sử dụng hết trong quá trình giám định; 01 (một) phong bì có viền xanh đỏ, bên trong có 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được lưu hồ sơ vụ án theo quy định.

Bị cáo Lò Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn V thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Ngày 08/11/2024 bị cáo Lò Văn V đã có hành vi cất giữ trái phép 0,25 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản CM, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La.

Bản thân bị cáo có 03 tiền án vào các năm 2006, 2009 và 2014 đều bị Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản. Tại bản án số 10/2014/HSST, ngày 25/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xử phạt 40 (bốn mươi) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo điểm c, khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999 (thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm). Đến ngày 14/02/2018 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Tuy nhiên tính đến thời điểm

bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 08/11/2024 thì bị cáo chưa thi hành trách nhiệm bồi dân sự cho các bị hại. Vậy nên bị cáo Lò Văn V được coi là chưa được xóa án tích. Do vậy lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o, khoản 2 Điều 249 BLHS 2015.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 08/11/2024; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 2025/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Biên bản xác minh; lời khai của người chứng kiến.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,25 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng cho bản thân. Trong khi bị cáo đã bị kết án với tình tiết định khung là Tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tính. Đến ngày 08/11/2024 tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn V đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, có tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Ngoài ra bị cáo đã có tiền án, đã từng đi chấp hành án nhiều lần nhưng vẫn không thấy được sự răn đe của pháp luật đối với những hành vi vi phạm pháp luật do bị cáo thực hiện. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 03 tiền án chưa được xóa án tích và 01 tiền sự.

[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo Lò Văn V không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Lò Văn V khai mua của một người đàn ông dân tộc Thái không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản

CT, xã BP, huyện TC, tỉnh Sơn La vào ngày 08/11/2024. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Lò Văn V phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.

[6] Vật chứng vụ án: Đối với 0,25 gam ma túy loại Heroine đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên HĐXX không đặt ra xem xét; Đối với 01 (một) phong bì có viên xanh đỏ, bên trong có 01 mảnh nilon màu trăng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được lưu hồ sơ theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lò Văn V phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt bị cáo Lò Văn V 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 08/11/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Lò Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

  3. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La (02 bản);
  • - VKSND huyện TC (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện TC;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Trại tạm giam;
  • - Lưu: hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HSST ngày 15/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 51/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn V phạm tội TTTPCMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger