Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 51/2025/HSST

Ngày: 09 - 4 - 2025

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Ngọc

Bà Hồ Thị Xuân Thiều

Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/HSST- QĐ ngày 26/3/2025 đối với bị cáo:

Trần Thế N, sinh năm 1979, tại tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: không; Nơi thường trú: Tổ B, khu phố M, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nơi tạm trú: ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Làm thuê; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn V và bà Trần Thị S; Vợ: Nguyễn Thị T (chung sống như vợ chồng, chưa đăng ký kết hôn); Con: Trần Ngọc Bảo C, sinh ngày 10/10/2021 và Trần Ngọc B, sinh ngày 13/02/2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/11/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bị hại:

  • Ông Bùi Văn N1, sinh năm 1982; Trú tại: Khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (có mặt)
  • Ông Lê Sỹ P, sinh năm 1986; Trú tại: Khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (có mặt)
  • Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1986; Trú tại: Khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (có mặt)
  • Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1983; Trú tại: Khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Trần Văn V, sinh năm 1957; Trú tại: Khu phố M, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước (có đơn xin vắng mặt)
  • Ông Trần Quang D, sinh năm 1981; Trú tại: Khu phố M, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước (có đơn xin vắng mặt)

Người làm chứng:

  • Ông Lê Thanh X, sinh năm 1990; Thường trú tại: ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; Tạm trú tại: Khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
  • Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; Nơi thường trú: Ấp F, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre; Tạm trú: Ấp X, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo N và ông Lê Thanh X cùng làm bốc vác củi với nhau. Do biết được trên thửa đất số 7 và thửa đất số 10, tờ bản đồ số 31, địa chỉ: Khu phố M, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước là tài sản của ông Trần Văn V, cha ruột N và là tài sản của ông Trần Quang D, em ruột N có cây cao su khoảng 20 năm tuổi và một số cây tràm khoảng 15 năm tuổi không có người trông coi nên N nảy sinh ý định nói dối là vườn cây của mình rồi bán cho người khác để lấy tiền tiêu xài, trả nợ cá nhân. Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 20/12/2023 N nói dối cho ông X biết N là chủ vườn cây cao su khoảng 500 cây muốn bán với giá là 300.000.000 đồng, nhờ ông X tìm người mua cây cao su giúp N rồi N dẫn ông X đến xem vườn cao su mà N muốn bán (vườn cây này là tài sản của ông D em trai ruột của N). Sau khi xem vườn cây xong thì ông X liên hệ với ông Bùi Văn N1 hỏi ông N1 có mua vườn cao su không thì ông N1 đồng ý; đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày ông N1 cùng ông Lê Sỹ P gặp ông X và được ông X dẫn đến vườn cao su nêu trên và ông N1, ông P đồng ý mua với giá 230.000.000 đồng nên ông X gọi điện thoại nói cho N biết, N đồng ý bán với với giá là 230.000.000 đồng và đến vườn cây chỉ ranh giới, khẳng định N là chủ vườn cây này với ông N1, ông P. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày N cùng với ông X, ông N1 và ông P đến một quán nước tại khu phố H, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước (không rõ tên quán) để viết Hợp đồng mua bán cây cao su thanh lý, tại đây ông N1, ông P đã đặt cọc trước cho N số tiền 30.000.000 đồng, viết giấy tờ mua bán và nhận tiền cọc xong thì tất cả ra về. Đến ngày 21/12/2023 và ngày 27/12/2023 thì ông N1, ông P đã thanh toán thêm số tiền 200.000.000 đồng cho N, N đã nhận đủ toàn bộ số tiền bán vườn cao su nêu trên của ông N1, ông P là 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng. Đến ngày 28/12/2023 thì ông N1, ông P đến vườn cao su đã mua của N để cưa cây cao su, khi cưa được khoảng 80 cây cao su thì ông D, ông V phát hiện, ngăn cản và cho biết vườn cây này không phải là tài sản của N mà là tài sản sản của ông D. Sau đó, ông N1, ông P tìm N nhưng N chiếm đoạt tiền xong đã bỏ đi khỏi địa phương. Ngày 26/02/2024 ông P đến Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước tố giác N về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Ngoài hành vi lừa bán vườn cây cao su của ông D như nêu trên thì khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 16/01/2024 N gọi điện thoại nói cho ông Huỳnh Văn T1 (người quen của N) biết N là chủ vườn cây có 400 cây cao su khoảng 20 năm tuổi và 25 cây tràm khoảng 15 năm tuổi (đây là tài sản của ông V cha ruột của N) tại khu phố M, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước muốn bán, giá bán là 150.000.000 đồng, khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì N dẫn ông T1 đến vườn cây nêu trên xem cây, xem cây xong ông T1 đồng ý mua. Ngày 17/01/2024 ông T1 cùng ông Đỗ Văn T2 góp chung số tiền 150.000.000 đồng (mỗi người 75.000.000 đồng) để mua vườn cây cao su, cây tràm nêu trên của N, đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày thì ông T1, ông T2 gặp N tại quán nước tại khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (không rõ tên quán) N viết Hợp đồng mua bán cây cao su, cây tràm cho ông T1, ông T2 và nhận số tiền cọc là 50.000.000 đồng; sau đó ông T1, ông T2 tiếp tục thanh toán cho N số tiền 100.000.000 đồng còn lại vào ngày 28/01/2024 và ngày 30/3/2024; N đã nhận đủ toàn bộ số tiền bán vườn cao su, cây tràm nêu trên của ông T1, ông T2 là 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng; ngày 02/4/2024 ông T1, ông T2 đến cưa cây cao su, cây tràm đã mua của N nêu trên nhưng chưa kịp cưa thì ông V đến ngăn cản và cho ông T1, ông T2 biết ông V là chủ vườn cao su, cây tràm này, không phải là tài sản của N. Ngày 06/04/2024 ông T1 đến Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước tố giác N về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Vật chứng vụ án: 01 Hợp đồng mua bán cây cao su thanh lý giữa ông P và N lập ngày 20/12/2023 và 01 Hợp đồng mua bán cây cao su thanh lý giữa ông T1 và N lập ngày 17/01/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông N1, ông P yêu cầu N bồi thường số tiền 200.000.000 đồng; ông T1, ông T2 yêu cầu N bồi thường số tiền 150.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 44/CT-VKSCT ngày 04/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng đểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38; 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo N từ 9 (chín) đến 10 (mười) năm tù.

Bị cáo đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi sai trái cả mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/12/2023 và ngày 17/01/2024, bị cáo N biết rõ vườn cây cao su, cây tràm trồng trên thửa đất số 7 và thửa đất số 10, tờ bản đồ số 31, toạ lạc tại khu phố M, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước là tài sản của ông D (em ruột của bị cáo) và tài sản của ông V (cha ruột bị cáo), không phải là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối bán cây cao su, cây tràm trên hai thửa đất nêu trên cho ông P, ông N1 và ông T1, ông T2, cụ thể: Ngày 20/12/2023 N bán cho ông P, ông N1 500 cây cao su của ông D với giá 230.000.000 đồng và ngày 17/01/2024 N bán cho ông T1, ông T2 400 cây cao su, 25 cây tràm của ông V với giá là 150.000.000 đồng, chiếm đoạt tổng số tiền là 380.000.000 (ba trăm tám mươi triệu) đồng. Hành vi của bị cáo Nhật thực H đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do vậy, Cáo trạng số: 44/CT-VKSCT ngày 04/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo N về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ.

[3]. Bị cáo N phạm tội hai lần nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[4]. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ; bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự; hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6]. Vật chứng vụ án là: 01 (một) Hợp đồng mua bán cây cao su thanh lý giữa Lê Sỹ P với Trần Thế N lập ngày 20/12/2023 và 01(một) Hợp đồng mua bán cây cao su thanh lý giữa Huỳnh Văn T1 với Trần Thế N lập ngày 17/01/2024, lưu theo hồ sơ vụ án.

[7]. Tại phiên toà bị cáo và người bị hại thoả thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại, theo đó bị cáo trả cho ông P, ông N1 mỗi người số tiền 90.000.000 đồng; ông T1 và T2 mỗi người số tiền 75.000.000 đồng. Việc thoả thuận của bị cáo và người bị hại là do các bên tự nguyện, không vi phạm điều cấm của Luật, không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tại phiên toà là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9]. Trong vụ án này, đối với ông X là người giới thiệu cho người bị hại mua vườn cây cao su do N dùng thủ đoạn gian dối lừa bán nhưng ông X không biết N lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người bị hại nên không có cơ sở xử lý đối với ông X. Đối với bà Nguyễn Thị T có đi cùng với N để ký hợp đồng bán cây và nhận tiền từ những người bị hại nhưng bà T không bàn bạc, không thoả thuận bán cây với người bị hại, không biết N lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người bị hại nên không có cơ sở xử lý đối với bà T. Đối với 80 cây cao su đã bị cưa của ông D do hành vi phạm tội của bị cáo N gây ra, ông D không yêu cầu bồi thường thiệt hại, không yêu cầu xử lý nên không xem xét xử lý.

[10]. Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38; 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Trần Thế N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Xử phạt bị cáo Trần Thế N 09 (chín) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/11/2024.
  2. Buộc bị cáo Trần Thế N có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lê Sỹ P số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng; Bồi thường cho ông Bùi Văn N1 số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng; Bồi thường cho ông Đỗ Văn T2 số tiền 75.000.000 (bảy mươi lăm triệu) đồng và bồi thường cho ông Huỳnh Văn T1 số tiền 75.000.000 (bảy mươi lăm triệu) đồng.
  3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thế N phải chịu số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu số tiền 16.500.000 (mười sáu triệu năm trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - CCTHADS thị xã Chơn Thành;
  • - CA tỉnh Bình Phước;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Quốc Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HSST ngày 09/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 51/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thế N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger