|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2025/HS-ST Ngày 28-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Dương Thị Hồng Vân
Ông Nguyễn Văn Thiện
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Khoa Trung - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu H và bà Ngô Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2025/HSST-QĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lò Thị N, sinh ngày 24/6/2000 tại Điện Biên. Nơi cư trú: Bản T, xã M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T1 và bà Hoàng Thị H; có chồng là Lò Văn T2 ( đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 21/7/2025 tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H; có mặt.
* Bị hại: Anh Nguyễn Đình Đ, sinh 1999; nơi cư trú: Thôn G, xã T, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Ngọc A, sinh 1997; nơi cư trú: Thôn H, xã P, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Bùi Minh P; vắng mặt.
- Chị Trần Thị Thu T3; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn Đ1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Thị N và anh Nguyễn Đình Đ có quan hệ tình cảm với nhau và cùng ở tại nhà trọ do anh Đ thuê tại số D N, phường H, thành phố Hải Phòng. Do có mâu thuẫn nên N đã rời nhà trọ và đến ở chỗ khác. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 20/5/2025, N quay về nhà trọ tại số D N, đi lên phòng ngủ tầng 2, dùng chân đạp phá chốt cửa vào phòng thì thấy anh Đ đang nằm ôm chị Ngọc A ngủ trên giường. Do bức xúc vì anh Đ có tình cảm với người khác, N chửi rồi tiến về phía giường, dùng chân trái đạp một cái trúng vào người chị Ngọc A. Anh Đ bật dậy dùng tay và chân đấm, đá vào đầu, vào người N. Nâng túm đánh lại anh Đ. Thấy vậy, chị Ngọc A rời khỏi phòng ngủ tầng 2. Khi thấy có xô xát xảy ra, một số người cùng nhà trọ ra can ngăn. Quá trình xô xát tại phòng ngủ tầng 2, N bị anh Đ đánh gây bầm tím vùng mặt và đầu. Sau đó, anh Đ xuống ngồi tại phòng khách ở tầng 1. Nâng đi xuống bếp ăn tại tầng 1 lấy 02 con dao trong giá đặt dao: tay trái cầm 01 con dao có chiều dài 34,4 cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 21,8cm, loại một lưỡi sắc, mũi bằng, bản rộng nhất dài 9,3cm, cán bằng gỗ; tay phải cầm 01 con dao dài 44,3cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 30,5cm, lưỡi sắc, mũi nhọn, bản rộng nhất dài 4,5cm rồi đi lên phòng ngủ của chị Ngọc A tại tầng 3, tiếp tục chửi bới, đuổi chị Ngọc A ra khỏi nhà. Sau đó, N dùng phần sống lưng của một con dao đang cầm (không nhớ dao nào) để đánh chị Ngọc A nhưng không gây thương tích gì. Khi đó, anh Đ đi lên can ngăn nên N đi xuống tầng 2, còn chị Ngọc A mang đồ rời khỏi nhà.
Do bức xúc với anh Đ, N xuống tầng 1 tiến về phía anh Đ, cầm dao trên tay phải vung lên chém một nhát về phía bên tay trái của anh Đ để doạ (không trúng người). Thấy vậy, anh Đ giữ chặt hai tay N và hai người chửi bới, giằng co nhau. Anh Đ dùng tay trái cầm vào cẳng tay trái Nâng, tay phải vòng qua gáy, qua người Nâng, giữ vào cánh tay phải của N. Anh Đ ôm từ phía sau, giữ tay N. Trong lúc giằng co, tay phải của N cầm dao, gập cổ tay, chém mặt lưỡi dao về phía chân trái của anh Đ, trúng vào đầu gối. Anh Bùi Minh P và chị Trần Thị Thu T3 chứng kiến và can ngăn hai người ra; anh Nguyễn Văn Đ1 cùng N đưa anh Đ đi bệnh viện Y học biển Hải Phòng.
Tại Bản kết luận pháp y về thương tích số 335/2025/KLTTCT-TTPYHP ngày 28 tháng 6 năm 2025 của Trung tâm Pháp y thành phố H kết luận: Nguyễn Đình Đ bị chém gây thương tích ở chân, bị xước da ở nhiều vùng tay, chân, gáy, sau tai... Qua giám định thương tích tại Trung tâm P xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đình Đ tại thời điểm giám định là 15%, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương liền vết phẫu thuật mặt trước gối trái gây nên là: 03% (Ba phần trăm); Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết phẫu thuật dẫn lưu mặt ngoài gối trái gây nên là: 01% (Một phần trăm); Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương đứt dây chằng bánh chè gối trái (dây chằng ngoài khớp) đã điều trị phục hồi không tốt, hiện tại còn hạn chế gấp duỗi đầu gối trái gây nên là: 11% (Mười một phần trăm). Các vết xước da vùng thái dương phải, vùng trước cổ, vùng gáy, vùng sau tai trái, vết sưng nề mặt trước đùi trái, vùng bìu trái đã khỏi, không thấy để lại dấu vết, không đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
Kết luận khác: Vết thương mặt trước gối trái có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên. Các vết xây xước da vùng thái dương phải, vùng trước cổ, vùng gáy, vùng sau tai trái, vết sưng nề mặt trước đùi trái, vùng bìu trái có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên. Các thương tích trên nếu không được cấp cứu, điều trị kịp thời cũng không gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân.
Tại Kết luận Giám định số 1721/KL-KTHS ngày 05/7/2025 và 1990/KL-KTHS ngày 30/7/2025 của Phòng P1, kết luận: 01 con dao có chiều dài tổng thể là 34,4cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 21,8cm, loại một lưỡi sắc, mũi bằng, bản rộng nhất là 9,3cm, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn, phần cán bằng gỗ (ký hiệu A1) là dao sắc, thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” của Thông tư số 75/2024/TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ C. 01 con dao có chiều dài tổng thể là 44,3cm, phần lưỡi bằng kim loại đã han rỉ dài 30,5cm, loại một lưỡi sắc, mũi nhọn, bản rộng nhất là 4,5cm, bản rộng phía cán là 2,3cm, phần cán bằng gỗ, trên cán có 02 đai bằng kim loại (ký hiệu A2 là dao sắc, nhọn, thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” của Thông tư số 75/2024/TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ C.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 01 đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh liên quan đến vụ việc do anh Bùi Minh P, sinh năm 2005, trú quán: thôn L, xã T, huyện T (nay là xã T), thành phố Hải Phòng giao nộp.
Tại Kết luận Giám định số 1690/KL-KTHS ngày 03/7/2025 của Phòng P1 kết luận: 01 tập tin video có phần mở rộng “MP4” dung lượng 71,4 MB được lưu trong 01 đĩa DVD đã qua sử dụng (ký hiệu A) không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh .
Về vật chứng:
- 01 con dao có chiều dài tổng thể là 34,4cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 21,8cm, loại một lưỡi sắc, mũi bằng, bản rộng nhất là 9,3cm, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn, phần cán bằng gỗ, ký hiệu A1. Và 01 con dao có chiều dài tổng thể là 44,3cm, phần lưỡi bằng kim loại đã han rỉ dài 30,5cm, loại một lưỡi sắc, mũi nhọn, bản rộng nhất là 4,5cm, bản rộng phía cán là 2,3cm, phần cán bằng gỗ, trên cán có 02 đai bằng kim loại, ký hiệu A2 chuyển đến Thi hành án dân sự thành phố (Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 4) để quản lý theo quy định.
- 01 đĩa DVD đã qua sử dụng chứa 01 tập tin video có phần mở rộng “MP4” dung lượng 71,4 MB lưu trong hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Anh Nguyễn Đình Đ yêu cầu Lò Thị N bồi thường số tiền chi phí điều trị là 28.411.939 đồng. Lò Thị N đến nay chưa bồi thường cho anh Đ.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 22 tháng 10 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng truy tố Lò Thị N về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Thị N khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Thị N về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Lò Thị N từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lò Thị N phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Đình Đ số tiền chi phí điều trị là 28.411.939 đồng. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao có chiều dài tổng thể là 34,4cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 21,8cm, loại một lưỡi sắc, mũi bằng, bản rộng nhất là 9,3cm, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn, phần cán bằng gỗ, ký hiệu A1; 01 con dao có chiều dài tổng thể là 44,3cm, phần lưỡi bằng kim loại đã han rỉ dài 30,5cm, loại một lưỡi sắc, mũi nhọn, bản rộng nhất là 4,5cm, bản rộng phía cán là 2,3cm, phần cán bằng gỗ, trên cán có 02 đai bằng kim loại, ký hiệu A2. Về án phí: Bị cáo Lò Thị N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:
[1] Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lò Thị N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội:
[3] Khoảng 6 giờ 00 phút ngày 20/5/2025, tại nhà trọ tại số D N, phường Đ, quận H (nay là phường H) thành phố Hải Phòng, Lò Thị N có hành vi dùng dao gây thương tích cho anh Nguyễn Đình Đ làm cho anh Nguyễn Đình Đ bị giảm tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 15%.
[4] Lời khai nhận của bị cáo Lò Thị N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[5] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Thị N phạm tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Bị cáo Lò Thị N không có tình tiết tăng nặng.
[7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lò Thị N thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
[8] Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự, bị cáo Lò Thị N phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 28.411.939 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với 01 con dao có chiều dài tổng thể là 34,4cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 21,8cm, loại một lưỡi sắc, mũi bằng, bản rộng nhất là 9,3cm, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn, phần cán bằng gỗ và 01 con dao có chiều dài tổng thể là 44,3cm, phần lưỡi bằng kim loại đã han rỉ dài 30,5cm, loại một lưỡi sắc, mũi nhọn, bản rộng nhất là 4,5cm, bản rộng phía cán là 2,3cm, phần cán bằng gỗ, trên cán có 02 đai bằng kim loại. Đây là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Đối với việc sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích cho anh Nguyễn Đình Đ của Lò Thị N còn có dấu hiệu của tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên do Cơ quan giám định chưa xác định con dao Nâng sử dụng là vũ khí quân dụng theo quy định tại Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra làm rõ, đủ căn cứ xử lý sau.
- Về án phí:
[11] Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lò Thị N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.421.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lò Thị N.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị N phạm tội Cố ý gây thương tích.
Xử phạt: Bị cáo Lò Thị N 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/7/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Lò Thị N phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Đình Đ số tiền 28.411.939 ( Hai mươi tám triệu, bốn trăm mười một nghìn, chín trăm ba mươi chín) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo chưa thi hành xong khoản tiền trên thì bị cáo còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền chưa thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong theo Kết luận Giám định số 1721/KL-KTHS ngày 05/7/2025 của Phòng PC09 - Công an thành phố H gồm: 01 con dao có chiều dài tổng thể là 34,4cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 21,8cm, loại một lưỡi sắc, mũi bằng, bản rộng nhất là 9,3cm, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn, phần cán bằng gỗ, ký hiệu A1; 01 con dao có chiều dài tổng thể là 44,3cm, phần lưỡi bằng kim loại đã han rỉ dài 30,5cm, loại một lưỡi sắc, mũi nhọn, bản rộng nhất là 4,5cm, bản rộng phía cán là 2,3cm, phần cán bằng gỗ, trên cán có 02 đai bằng kim loại, ký hiệu A2.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 10 năm 2025 giữa Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc: Bị cáo Lò Thị N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.421.000 (Một triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười năm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài |
7
Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 51/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Thị Nâng và anh Nguyễn Đình Đạt có quan hệ tình cảm với nhau và cùng ở tại nhà trọ do anh Đạt thuê tại số 48B/225 Ngô Gia Tự, phường Hải An, thành phố Hải Phòng. Do có mâu thuẫn nên Nâng đã rời nhà trọ và đến ở chỗ khác. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 20/5/2025, Nâng quay về nhà trọ tại số 48B/225 Ngô Gia Tự, đi lên phòng ngủ tầng 2, dùng chân đạp phá chốt cửa vào phòng thì thấy anh Đạt đang nằm ôm chị Ngọc Anh ngủ trên giường. Do bức xúc vì anh Đạt có tình cảm với người khác, Nâng chửi rồi tiến về phía giường, dùng chân trái đạp một cái trúng vào người chị Ngọc Anh. Anh Đạt bật dậy dùng tay và chân đấm, đá vào đầu, vào người Nâng. Nâng túm đánh lại anh Đạt. Thấy vậy, chị Ngọc Anh rời khỏi phòng ngủ tầng 2. Khi thấy có xô xát xảy ra, một số người cùng nhà trọ ra can ngăn. Quá trình xô xát tại phòng ngủ tầng 2, Nâng bị anh Đạt đánh gây bầm tím vùng mặt và đầu. Sau đó, anh Đạt xuống ngồi tại phòng khách ở tầng 1. Nâng đi xuống bếp ăn tại tầng 1 lấy 02 con dao trong giá đặt dao: tay trái cầm 01 con dao có chiều dài 34,4 cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 21,8cm, loại một lưỡi sắc, mũi bằng, bản rộng nhất dài 9,3cm, cán bằng gỗ; tay phải cầm 01 con dao dài 44,3cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 30,5cm, lưỡi sắc, mũi nhọn, bản rộng nhất dài 4,5cm rồi đi lên phòng ngủ của chị Ngọc Anh tại tầng 3, tiếp tục chửi bới, đuổi chị Ngọc Anh ra khỏi nhà. Sau đó, Nâng dùng phần sống lưng của một con dao đang cầm (không nhớ dao nào) để đánh chị Ngọc Anh nhưng không gây thương tích gì. Khi đó, anh Đạt đi lên can ngăn nên Nâng đi xuống tầng 2, còn chị Ngọc Anh mang đồ rời khỏi nhà. Do bức xúc với anh Đạt, Nâng xuống tầng 1 tiến về phía anh Đạt, cầm dao trên tay phải vung lên chém một nhát về phía bên tay trái của anh Đạt để doạ (không trúng người). Thấy vậy, anh Đạt giữ chặt hai tay Nâng và hai người chửi bới, giằng co nhau. Anh Đạt dùng tay trái cầm vào cẳng tay trái Nâng, tay phải vòng qua gáy, qua người Nâng, giữ vào cánh tay phải của Nâng. Anh Đạt ôm từ phía sau, giữ tay Nâng. Trong lúc giằng co, tay phải của Nâng cầm dao, gập cổ tay, chém mặt lưỡi dao về phía chân trái của anh Đạt, trúng vào đầu gối. Anh Bùi Minh Phước và chị Trần Thị Thu Trang chứng kiến và can ngăn hai người ra; anh Nguyễn Văn Đức cùng Nâng đưa anh Đạt đi bệnh viện Y học biển Hải Phòng
