|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 51/2025/HS-ST Ngày: 25 - 06 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Phước.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tuyến;
- Bà Phan Thị Gái.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trương Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường xét xử số 1, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Hoàng Văn V
, sinh ngày 01/01/1994 tại Nam Định; nơi cư trú: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1960 và bà Đỗ Thị Ú, sinh năm 1969; đều nơi cư trú: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: 02 tiền án.
Ngày 24/3/2023 bị TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/5/2023.
Ngày 16/10/2023 bị TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/01/2025.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/02/2025 cho đến nay; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 02 năm 2025, Hoàng Văn V mới ra tù và không có việc làm nên V lên mạng đăng số điện thoại 0385.488.xxx để tìm việc. Tối ngày 07/02/2025 có số điện thoại 0795.778.xxx gọi đến số điện thoại 0385.488.xxx của V, do bận việc nên V không nghe máy. Sáng ngày 08/02/2025, V sử dụng số điện thoại 0981.012.xxx gọi vào số điện thoại nêu trên thì gặp một người đàn ông, giới thiệu tên “B”, nhà ở tỉnh Quảng Trị. Qua điện thoại “B” đặt vấn đề thuê V vận chuyển pháo lậu với tiền công 5.000.000 đồng trên một chuyến. Mặc dù biết pháo lậu là hàng hóa Nhà nước cấm vận chuyển, nhưng do được trả tiền công cao và bản thân không có việc làm nên V đồng ý. Tiếp đó “B” hẹn gặp V tại bến xe thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị để trao đổi việc vận chuyển pháo lậu. Khoảng 17 giờ ngày 08/02/2025, từ phường M, quận C, thành phố Hà Nội, V đón xe ô tô khách biển kiểm soát 74F-001.76 của nhà xe H1 vào tỉnh Quảng Trị. Quá trình di chuyển, B liên lạc và hướng dẫn V xuống xe trước cây xăng thuộc địa phận xã T, huyện H để B đến đón. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 09/02/2025, V xuống xe tại điểm đã hẹn và được B đi xe máy đến đón. Sau đó, B chở V đến một bãi đất trống bên phải Tỉnh lộ 586 hướng đi xã T thôn L, xã T, huyện H và nói cho V biết đây là xã T, huyện H rồi chỉ số pháo lậu được B đóng gói trong một ba lô và một sọt nhựa đang để ở bãi đất trống, phía trên sọt nhựa dùng lá chuối và các nải chuối che lại để ngụy trang. B nói với V cứ vận chuyển pháo lậu về bến xe khách Đông Hà sẽ có người nhận và trả tiền công vận chuyển là 5.000.000 đồng, đồng thời cung cấp cho V số điện thoại 0983.176.xxx của người nhận pháo. V gọi cho số điện thoại trên nhưng không liên lạc được nên B nói với V cứ về đến C thì gọi lại cho B để B liên lạc với người nhận. Do V chưa có phương tiện để vận chuyển pháo nên B cung cấp số điện thoại 0838.030.xxx của xe dịch vụ chở khách. V sử dụng số điện thoại 0981.012.xxx gọi đến số điện thoại 0838.030.xxx thì gặp Nguyễn Thành T - Sinh ngày 25/10/1995, trú tại: Khu phố I, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị, đặt vấn đề thuê T chở về bến xe khách thành phố Đ, T đồng ý. V hướng dẫn T lái xe đến gần chợ T1, huyện H, rẽ phải đi khoảng 500 mét để đón V. Sau khi trao đổi xong, B lái xe máy rời đi, V tiếp tục ngồi chờ ở bãi đất khoảng 10 phút thì T điều khiển xe ô tô gắn biển kiểm soát 74A-226.78 đến. V yêu cầu T mở cốp xe, sau đó trực tiếp đưa ba lô và sọt nhựa có chứa pháo lậu đang để trên bãi đất vào trong cốp xe ô tô, lúc này anh T vẫn ngồi trên xe. Bốc hàng xong, V lên xe ngồi bên ghế phụ (bên phải ghế lái), T hỏi chở hàng gì ? Thì V trả lời “Đồ dùng cá nhân và có ít chuối đưa về cúng” rồi yêu cầu T lái xe chở về bến xe khách Đông Hà. Khoảng 08 giờ 50 phút, khi xe ô tô di chuyển đến Km19+200 Quốc lộ I, thuộc địa phận thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị thì bị lực lượng Công an dừng phương tiện và kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong ba lô và sọt nhựa do V mang theo có tổng cộng 16 hộp vỏ ngoài bọc giấy nghi là pháo hoa nổ các loại. Hoàng Văn V thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V.
Kết luận giám định số 298/KL-KTHS ngày 13/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 04 hộp vỏ ngoài bọc giấy có ký hiệu CHONGKOL C0833 và 12 hộp vỏ ngoài bọc giấy có ký hiệu TP4049 CS689 là Pháo hoa nổ. Tổng khối lượng: 25,6 kg;
Cáo trạng số 38/CT-VKS-P1 ngày 23/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Hoàng Văn V về tội: “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 191 BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm 1 khoản 2 Điều 191; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn V từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/02/2025.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
* Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 thùng giấy ký hiệu P1.1 và 01 thùng giấy ký hiệu P2.1 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
- - 01 (một) thùng các tông màu vàng, kích thước 50cm x 35cm x 37cm; 01 (một) sọt nhựa màu đen, kích thước 50cm x 35cm x 23,5cm.
- - 01 (một) ba lô màu xám đen, kích thước 47cm x 35cm x 17cm; 05 (năm) cái áo; 03 (ba) cái quần; 02 sim điện thoại của bị cáo Hoàng Văn V.
* Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- - 01 (một) máy điện thoại di động hiệu MASSTEL model: izi30 của bị cáo Hoàng Văn V.
Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Ngày 09/02/2025 Hoàng Văn V đã có hành vi vận chuyển 16 hộp pháo hoa nổ, có tổng khối lượng 25,6kg cho người khác để nhận tiền công, trên đường vận chuyển đến địa phân thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị thì bị phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật. Bị cáo có 02 tiền án nên hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Hoàng Văn V về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đối với những loại hàng hoá mà pháp luật cấm kinh doanh, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử nhiều lần nhưng không lấy đó làm học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này trong tình hình hiện nay.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Hoàng Văn V không có thu nhập ổn định và chưa thu lợi gì trong việc vận chuyển hàng cấm nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thùng cát tông màu vàng, 01 sọt nhựa màu đen, 01 ba lô màu xám đen, 05 cái áo, 03 cái quần là vật chứng của vụ án nhưng không có giá trị sử dụng; đối với 01 thùng giấy ký hiệu P1.1 bên trọng đựng 03 hộp pháo hoa nổ; 01 thùng giấy ký hiệu P1.2 bên trọng đựng 11 hộp pháo hoa nổ là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số vật chứng trên.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Masstel của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[7]. Ban hành Quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm 1 khoản 2 Điều 191; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn V: 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/02/2025.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
* Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 thùng giấy ký hiệu P1.1 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q: bên trong đựng 03 (ba) hộp pháo hoa nổ vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy nhiều màu sắc có ký hiệu CHONG KOL C0833 còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 298/KL-KTHS ngày 13/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q.
- - 01 thùng giấy ký hiệu P2.1 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q: bên trong đựng 11 (mười một) hộp pháo hoa nổ vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy nhiều màu sắc có ký hiệu TP4049 CS689 còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 298/KL-KTHS ngày 13/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q.
- (Các thùng giấy trên hiện có tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q theo biên bản giao nhận ngày 13/02/2025 giữa Phòng K - Công an tỉnh Q và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q)
- - 01 (một) thùng các tông màu vàng, kích thước 50cm x 35cm x 37cm;
- - 01 (một) sọt nhựa màu đen, kích thước 50cm x 35cm x 23,5cm;
- - 01 (một) ba lô màu xám đen, kích thước 47cm x 35cm x 17cm;
- - 05 (năm) cái áo;
- - 03 (ba) cái quần.
* Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- - 01 (một) máy điện thoại di động hiệu MASSTEL model: izi30, số IMEI 1: 350335896667629, số IMEI 2: 350335896667637 màu đen, bên trong có gắn 02 sim điện thoại ghi chữ V1, sim thứ nhất có dòng số: 8984048000934294041, sim thứ hai có dòng số: 8984048000914128020 máy đã qua sử dụng (được mở ra từ phong bì niêm phong ký hiệu ĐT)
- (Vật chứng hiện có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh với Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Văn V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Phước |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Trần Văn Tuyến |
Phan Thị Gái |
Phan Hồng Phước |
Lê Hồng Quang
* Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã tạm giữ:
- Các vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ của Hoàng Văn V gồm:
- + 04 hộp vỏ ngoài bọc giấy có ký hiệu CHONGKOL C0833 và 12 hộp vỏ ngoài bọc giấy có ký hiệu TP4049 CS689.
- + 01 thùng cát tông, bên trong có 01 ba lô màu xám đen có kích thước (47 x 35 x 17)cm; 05 cái áo; 03 cái quần, bên ngoài dán giấy niêm phong, ký hiệu P1.
- + 01 thùng cát tông, bên trong có 01 thùng cát tông màu vàng có kích thước (50 x 35 x 37)cm, bên ngoài dán giấy niêm phong, ký hiệu P2.
- + 01 sọt nhựa màu đen có kích thước (50 x 35 x 23,5)cm.
- + 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu MASSTEL, model: izi30, emei 1: 350335896667629, emei 2: 350335896667637, bên trong có gắn 02 sim điện thoại ghi chữ viettel, sim thứ nhất có dòng số: 8984048000934294041, sim thứ hai có dòng số: 8984048000914128020 được niêm phong trong một phong bì, có dán giấy niêm phong, ký hiệu ĐT.
- Các vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ của Nguyễn Thành T gồm:
- + 01 xe ô tô gắn biển kiểm soát 74A-226.78, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại ACCENT, màu trắng, số khung: RLUA841BBMN064524, số máy: G4LCMG003852
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 74000300 do Công an huyện V cấp ngày 17/4/2024.
- + 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DB 0174172 cấp ngày 26/9/2023.
- + 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 06/02/2024, mang tên: Nguyễn Thành T.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Thị N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Xét thấy việc trả lại tài sản và những tài liệu liên quan không làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã trả lại xe ô tô cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 74000300; Giấy phép lái xe số 45023003026; Giấy chứng nhận kiểm định số DB 0174172 cho Nguyễn Thành T là chủ sở hữu hợp pháp.
- Đối với 03 hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài hộp bọc giấy có ký hiệu CHONGKOL C0833 được cho vào 01 thùng giấy, dán giấy niêm phong, ký hiệu là P1.1; 11 hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài hộp bọc giấy có ký hiệu TP4049 CS689 được cho vào 01 thùng giấy và dán giấy niêm phong, ký hiệu P2.1; tổng khối lượng là 22,6 kg chuyển đến Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Q bảo quản. Những vật chứng còn lại, chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị bảo quản chờ xử lý.
Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm (vận chuyển hàng cấm)
- Số bản án: 51/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vận chuyển hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: oàng Văn V phạm tội vận chuyển hàng cấm
