Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG-THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-ST
Ngày: 25/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh

Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc T- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 03 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 12/3/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc C, sinh năm 1995 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố H, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn S và bà Lê Thị Á; Vợ Nguyễn Thị Bích T1 và 02 người con.

Tiền án:

  • + Ngày 08/02/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/01/2019 nhưng C chưa chấp hành bồi thường dân sự cho bị hại.
  • + Ngày 15/8/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/2023.

Tiền sự: Không

Nhân thân:

  • + Ngày 06/02/2008, C đã có hành vi trộm chân đèn bằng đồng tại phường P, tuy nhiên chưa đủ tuổi xử phạt vi phạm hành chính.
  • + Ngày 17/7/2015, C bị Công an phường P xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi đánh nhau.
  • + Ngày 10/01/2023, bị Công an phường P xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + Ngày 22/01/2025, bị Công an thành phố P – T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Tạm giam khu vực P - T -Trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn S, sinh năm 1960

Nơi cú trú: Khu phố H, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 06/11/2024, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp Công an phường P tiến hành tuần tra trên đường P, khi đến khu vực ngã tư giao nhau đường P - Quốc lộ A, thuộc khu phố A, phường P thì phát hiện Nguyễn Quốc C đang điều khiển xe mô tô, biển số 85E1-231.14 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, thu giữ: 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài dán băng keo màu đen (nghi ma túy, ký hiệu M) bên trong túi áo khoác bên phải của C. Ngoài ra còn tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Realme có gắn sim điện thoại số 0389.005.xxx, 01 xe mô tô, biển số 85E1-231.14 và số tiền 1.400.000 đồng.

Cùng ngày, cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của C ở khu phố H, phường P thì phát hiện thu giữ: 01 cuộn băng keo màu đen; 01 cây kéo kim loại màu trắng; 01 quẹt ga màu trắng; 01 đoạn ống nhựa một đầu cắt nhọn; 04 gói nylon dạng miệng khép dính.

Quá trình điều tra: Nguyễn Quốc C khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 11 giờ ngày 06/11/2024, C sử dụng điện thoại di động hiệu realme có gắn sim điện thoại số 0389.005.xxx liên hệ qua số điện thoại 0389.671.xxx của người tên B (chưa xác định được nhân thân lai lịch) hỏi mua 400.000 đồng ma túy đá thì B đồng ý và hẹn C giao nhận ma túy tại khu vực cầu Đ thuộc phường P, thành phố P - T. Tại đây, B đưa cho C 01 tép ma túy, C đưa cho B số tiền 400.000 đồng. Sau đó, C cầm tép ma túy đá mang về nhà lấy một ít ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại trong gói nylon C hàn kín lại và dán băng keo đen bên ngoài rồi bỏ vào túi áo khoác để dành sử dụng dần. Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô biển số 85E1-231.14 chay trên đường P, khi đến khu vực gần đèn giao thông Phan Rang L- Quốc lộ A thuộc khu phố A, phường P thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định chất ma túy số: 277/KL-KTHS ngày 09/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, xác định: “Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M) là chất ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4830 gam. Hoàn trả đối tượng sau giám định: M: 0,3255 gam cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định”.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể vào ngày 06/11/2024, xác định: Cường dương tính với chất ma túy trong cơ thể.

Trong quá trình điều tra, bị can Nguyễn Quốc C thành khẩn khai báo, C phạm tội thuộc trường hợp tái phạm.

Vật chứng của vụ án:

  • - Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 gói niêm phong bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định: M: 0,3255 gam cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 cuộn băng keo màu đen; 01 cây kéo kim loại màu trắng; 01 quẹt ga màu trắng; 01 đoạn ống nhựa một đầu cắt nhọn; 04 gói nylon dạng miệng khép dính; sim điện thoại số 0389.005.xxx. Đây là chất ma tuý, công cụ, phương tiện C sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu realme của C, quá trình điều tra xác định là phương tiện C dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 xe mô tô, biển số: 85E1 - 231.14, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn S (là cha của C). Vào ngày 06/11/2024, C mượn xe của ông S để làm phương tiện đi lại, khi cho mượn ông S không biết C sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chủ sở hữu.
  • - Hiện Cơ quan điều tra đang tạm giữ: số tiền 1.400.000 đồng của C, quá trình điều tra xác định là số tiền không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho C.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 39/CT-VKSPRTC ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, truy tố bị cáo Nguyễn Quốc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng; Về vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận; Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng để bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N; Cơ quan điều tra Công an T – T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 06/11/2024, tại khu phố A, phường P, thành phố P - T, Nguyễn Quốc C đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,4830 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo Nguyễn Quốc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội:

Ma túy là một trong những tệ nạn xã hội cần được bài trừ bởi nó là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến xã hội.

Do đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Methamphetamine của bị cáo nhằm mục đích sử dụng là hết sức nguy hiểm không những xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma túy mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự công cộng tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật khi bị phát hiện sẽ bị trừng trị một cách nghiêm khắc nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm cho thấy bị cáo bất chấp hậu quả và xem thường pháp luật nên cần có hình phạt tương xứng đối với bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân xấu. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Do đó, khi lượng hình hội đồng xét xử cũng cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Đối với người thanh niên tên B sử dụng điện thoại số 0389.671.xxx bán ma túy cho Nguyễn Quốc C, Cơ quan điều tra đã có yêu cầu nhà mạng V cung cấp chứng cứ, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử nhưng chưa có kết quả nên chưa đủ thông tin, dữ liệu để xác minh nên Cơ quan điều tra xác minh, đề nghị xử lý sau vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • * 01 gói niêm phong bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định: M: 0,3255 gam cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 cuộn băng keo màu đen; 01 cây kéo kim loại màu trắng; 01 quẹt ga màu trắng; 01 đoạn ống nhựa một đầu cắt nhọn; 04 gói nylon dạng miệng khép dính; sim điện thoại số 0389.005.xxx. Đây là chất ma tuý, công cụ, phương tiện C sử dụng vào việc phạm tội. Đây là vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xét phải tịch thu tiêu hủy.
  • * Đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme của C, quá trình điều tra xác định là phương tiện C dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước là có cơ sở.
  • * Đối với 01 xe mô tô, biển số: 85E1 - 231.14, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn S. Vào ngày 06/11/2024, C mượn xe của ông S để làm phương tiện đi lại, khi cho mượn ông S không biết C sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chủ sở hữu ông Nguyễn S là phù hợp.
  • * Đối với số tiền 1.400.000 đồng của C, quá trình điều tra xác định là số tiền không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho Nguyễn Quốc C là phù hợp.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc C 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/11/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định: theo KLGĐ số 277/KL-KTHS ngày 09/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N bên ngoài có dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh N, chữ ký và họ tên của Nguyễn Nghi A, Đoàn Văn C1, Nguyễn Lê Đức N, Dương Thành N1; 01 phong bì bên trong có 01 cuộn băng keo màu đen; 01 cây kéo kim loại màu trắng; 01 hộp màu đen, 01 quẹt ga màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa một đầu cắt nhọn; 04 gói nylon dạng miệng khép dính chưa qua sử dụng; Được dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có hình dấu tròn đỏ của Công an phường P, thành phố P - T, chữ ký và họ tên của Hoàng Mạnh Q, Dương Thành N1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Quốc C.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh, gắn sim 0389005276, số IMEI1: 860343042953573, IMEI 2: 860343042953567

Trả lại cho ông Nguyễn S: 01 xe máy màu đỏ - đen, không rõ nhãn hiệu, biển số 85E1231.14, số khung RLCL44S10AY016565, số máy 44S1-016570.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc C số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng).

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2025 giữa Công an thành phố P – T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T và Theo ủy nhiệm chi số 08 ngày 24/02/2025 giữa đơn vị trả tiền: Công an thành phố P- T và đơn vị nhận tiền: Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 25/03/2025.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Công an TP. PR-TC;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Bị cáo; NLQ
  • - Lưu án văn, hồ sơ./.

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 51/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger