|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2025/HS-ST Ngày: 25/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lệ Thủy;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Thân; Ông Phan Minh Tuấn;
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 12/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đối với các Bị cáo:
1. Họ và tên: Lương Chầu T; Sinh năm: 1981; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Tổ dân phố H, T, phường P, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông: Lương Văn T1; Con bà: Lý Thị V; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Chồng: Nguyễn Phúc H (đã chết); Bị cáo có 01 con sinh năm: 2002;
Trích lục tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2014 đến ngày 09/01/2025, thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh.
2. Họ và tên: Nguyễn Minh H1; Sinh năm: 1973; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn Đ, xã D, huyện H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T2 (Đã chết); Con bà: Hoàng Thị N (Đã chết); Gia đình Bị cáo có 06 anh chị em, Bị cáo là con thứ 6; Vợ: Lưu Thị Hồng Q; Bị cáo có 02 con (Con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2002);
Trích lục tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2025 đến ngày 09/01/2025, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn gia hạn tạm giữ lần 1, Bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Các Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 20/12/2024, tổ công tác Đ1 - Công an quận N làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát phòng chống tội phạm trên tuyến đường 32. Khi tổ công tác đi đến khu vực số nhà C phố N, tổ dân phố H T, phường P, quận N, thành phố Hà Nội thì phát hiện Lương Chầu T đang ghi số lô, số đề cho Phạm Văn D (Sinh năm: 1989; Địa chỉ: Số A V, phường K, quận T, Hà Nội) 02 tờ tích kê có ghi chữ số ở trên. Nghi vấn mua bán số lô đề nên tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện trong tay phải của D có 02 tờ tích kê có ghi đề: 73-550n, 3 số 573-550n, lô: 77, 99, 72, 34, 40, 80, 27 (20 điểm 1 con) với số tiền 3.150.000 đồng (Ba triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng). Tại chỗ Lương Chầu T và Phạm Văn D đã khai nhận 02 tích kê có ghi chữ số là các số lô, số đề mà D vừa mua của T với tổng số tiền là 4.150.000 đồng (Bằng chữ: Bốn triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng). Kiểm tra trên bàn Thơi ngồi, tổ công tác thu giữ 02 bảng lô đề có giá trị 12.690.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 6S, 01 điện thoại Iphone 12 Pro. Sau đó, tổ công tác đưa những người liên quan về trụ sở để làm rõ nội dung sự việc.
Vật chứng tạm giữ của Lương Chầu T: 02 bảng ghi số lô, số đề ngày 20/12/2024; 01 điện thoại Iphone 6S màu bạc, không gắn sim; 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu vàng, gắn sim số 0374109681; Tạm giữ trên mặt bàn Thơi ngồi số tiền là: 12.690.000 đồng (Bằng chữ: Mười hai triệu, sáu trăm chín mươi nghìn đồng) và số tiền T giao nộp là: 33.855.500 đồng (Bằng chữ: Ba mươi ba triệu, tám trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm đồng);
Tạm giữ của Phạm Văn D: 02 tờ tích kê có ghi các số lô, số đề: 73-550n, 3 số 573-550n, lô: 77, 99, 72, 34, 40, 80, 27 (20 điểm 1 con) = 3.150.000 đồng;
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Minh H1 không có việc làm ổn định nên đã nảy sinh ý định mua bán số lô, số đề để có thêm thu nhập. Khoảng tháng 12/2024, H1 gặp và biết Lương Chầu T tại quán bán nước chè của T tại số nhà C phố N, tổ dân phố H T, phường P, quận N, thành phố Hà Nội nên đã bàn bạc với T về việc nếu có khách qua đường muốn mua số lô, số đề thì T sẽ bán cho khách, sau đó bán lại cho H1 với giá thấp hơn để hưởng tiền hoa hồng chênh lệch. Thấy có thể kiếm thêm thu nhập nên T đồng ý. Sau khi thỏa thuận xong, H1 dùng điện thoại Samsung màu đen, sử dụng sim rác đăng ký tài khoản Zalo “Xmen”, T sử dụng điện thoại Iphone 6S màu bạc, không gắn sim, đăng nhập tên Z “Chầu Thơi” đã đăng ký bằng số điện thoại 0355.635.xxx kết bạn Zalo với nhau để nhắn tin mua bán số lô, số đề. Hàng ngày, khi có khách đến mua các số lô, số đề T sẽ thu tiền và sử dụng bút ghi chép số lô, số đề, số tiền khách mua vào 01 tờ giấy kích thước (7 x 10)cm (gọi là tích kê), có ghi chép ngày tháng đưa cho khách để phục vụ việc đối chiếu khi khách đến nhận tiền nếu trúng thưởng. Sau đó, T tập hợp các số lô, số đề đã bán trong ngày viết lại ra tờ giấy A4 (gọi là bảng lô đề), chụp hình lại rồi sử dụng Zalo “Chầu Thơi” gửi tin nhắn hình ảnh bảng lô đề đến tài khoản Zalo “Xmen” của H1. H1 sẽ nhắn lại “OK” để xác nhận. Khi có kết quả xổ số, H1 sẽ ra quán nước chè của T để thanh toán tiền thắng thua bằng tiền mặt vào ngày hôm sau. Sau khi thanh toán xong, H1 và T đều xóa hết tin nhắn mua bán số lô, số đề, huỷ bảng lô đề. Đối với khách trực tiếp đến mua số lô, số đề thì giá bán và cách tính thắng thua H1 và T thỏa thuận như sau:
Đối với khách mua các số lô thường (hai số): Với mỗi số lô T bán với giá 22.500 đồng/01 điểm lô; So sánh các số lô đã mua với hai số cuối trong các giải thưởng, nếu trúng Thơi trả cho khách 80.000 đồng/01 điểm, nếu số lô đã mua trùng nhiều lần với hai số cuối trong các giải thưởng thì số tiền trúng thưởng sẽ được cộng dồn theo số lần trùng tương ứng; Nếu không trúng khách mất toàn bộ số tiền đã mua. Thơi chuyển cho H1 với giá 22.000 đồng/01 điểm, hưởng chênh lệch 500 đồng/01 điểm;
Đối với khách mua các bộ gồm từ hai đến ba số lô (Gọi là lô xiên hai, xiên ba, xiên bốn): Quy ước trúng thưởng là tất cả các số lô đã mua phải trùng với hai số cuối trong các giải thưởng, nếu trúng khách nhận số tiền gấp 10 lần số tiền đã mua đối với lô xiên hai, nhận gấp 40 lần số tiền đã mua đối với lô xiên ba và gấp 100 lần số tiền đã mua đối với lô xiên bốn. Nếu không trúng khách mất toàn bộ số tiền đã mua số lô. Thơi bán cho khách 01 điểm lô xiên = 10.000 đồng, chuyển cho H1 01 điểm lô xiên = 8.000 đồng, hưởng lợi 2.000 đồng;
Đối với khách mua số đề: Quy ước trúng thưởng, số đề khách mua phải trùng với các số cuối hoặc số đầu của giải đặc biệt (Số đề thường trùng hai số cuối hai số đầu, đề ba càng thì phải trùng ba số cuối). Tùy theo thỏa thuận với khách, với số tiền khách mua, cứ 10.000 đồng số tiền thực tế trả cho T thì sẽ được T khuyến mãi thêm 1.000 đồng được cộng vào số tiền khách đã mua số đề hoặc ghi đủ số tiền thực tế khách mua mà không khuyến mãi. Nếu trúng thưởng, T thanh toán cho khách số tiền gấp 70 lần số tiền đã mua số đề hai chữ số (Bao gồm cả tiền đã khuyến mãi), gấp 300 lần số tiền đã mua số đề ba càng. Cứ 10.000 đồng tiền đề thực của khách, T chuyển lại cho H1 7.500 đồng, hưởng chênh lệnh 2.500 đồng.
Quá trình điều tra đã xác định: Ngày 20/12/2024, T đã chuyển cho H1 các số lô số đề như sau: 84 số đề thường, số tiền thực tế nhận của khách là 4.223.000 đồng, số tiền khuyến mại cho khách là 449.000 đồng, tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 4.672.000 đồng; 03 số đề ba càng, số tiền thực tế nhận của khách là 540.000 đồng, số tiền khuyến mại là 54.000 đồng, tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 594.000 đồng; 225 điểm số lô xiên tương ứng với tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 2.250.000 đồng; 2257 điểm số lô thường tương ứng với tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 50.782.500 đồng. Như vậy, tổng số tiền T và H1 đã tổ chức cho khách mua bán số lô, số đề trong ngày là 58.298.500 đồng. Số tiền thực tế Thơi nhận của khách là 57.795.500 đồng (Trong đó: Thơi cho 02 khách nợ 500 điểm lô tương ứng số tiền 11.250.000 đồng, trả cho khách đến lấy tiền hôm trước 33.855.500 đồng, số tiền bị tạm giữ là: 12.690.000 đồng). Số tiền hưởng lợi của T là 2.769.250 đồng. Toàn bộ số lô, số đề đã bán trong ngày thì T đã bán lại cho “H1”, được “H1” nhắn tin xác nhận “OK”, tức là đồng ý mua lại các số lô, số đề. Do chưa có kết quả sổ số nên T chưa thanh toán tiền thu lợi cho H1.
Ngày 20/12/2024, tại Cơ quan điều tra, Lương Chầu T đã tự nguyện giao nộp số tiền 33.855.500 đồng thu được trong ngày 20/12/2024.
Đối với Phạm Văn D là đối tượng mua số lô, số đề ngày 20/12/2024 bị Cơ quan Công an kiểm tra, D đã mua các số đề gồm 73 x 500.000 đồng được khuyến mại thêm 50.000 đồng thành 550.000 đồng, số tiền mua số đề thực tế là 500.000 đồng; Số lô 77, 99, 92, 34, 40, 80, 27 mỗi số 20 điểm, tổng là 140 điểm x 22.500 đồng = 3.150.000 đồng; Ba càng: 573 x 500.000 đồng được khuyến mại thêm 50.000 đồng thành 550.000 đồng, số tiền mua số ba càng thực tế là 500.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc là: 4.250.000 đồng. Phạm Văn D chưa có tiền án tiền sự, vi phạm lần đầu, số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó ngày 04/02/2025 Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn D về hành vi: “Mua số lô, số đề” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, hình thức phạt tiền: 350.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Cơ quan điều tra, Lương Chầu T, Nguyễn Minh H1 đã khai nhân hành vi phạm tội của các Bị cáo.
Theo Cáo trạng số: 45/CT-VKSNTL ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố Bị cáo Lương Chầu T và Nguyễn Minh H1 về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định như sau: “Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;"
Tại phiên toà: Bị cáo Lương Chầu T và Nguyễn Minh H1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của các Bị cáo và xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các Bị cáo về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự là đúng với hành vi các Bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các Bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, được cải tạo ngoài xã hội, cũng là bài học sâu sắc cho các Bị cáo để trở thành công dân tốt cho xã hội.
Luận tội của Kiểm sát viên: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo Lương Chầu T và Nguyễn Minh H1, Kiểm sát viên đã kết luận: Giữ quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo Lương Chầu T và Nguyễn Minh H1 về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các Bị cáo như sau: Các Bị cáo trước khi phạm tội đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; Sau khi phạm tội, các Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Bị cáo H1 ra đầu thú, Bị cáo T đã tự nguyện nộp 3/4 số tiền Bị cáo do phạm tội mà có là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cho các Bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao các Bị cáo về UBND nơi các Bị cáo cư trú để giám sát giáo dục các Bị cáo trong thời gian thử thách cũng có tác dụng giáo dục các Bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Bị cáo T mức án từ 18 tháng đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng kể từ ngày tuyên án; Xử phạt Bị cáo H1 mức án từ 21 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 42 đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án; Giao các Bị cáo về Uỷ ban nhân dân nơi các Bị cáo cư trú để giám sát giáo dục các Bị cáo trong thời gian thử thách; Về hình phạt bổ sung: Các Bị cáo đều không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước công cụ, phương tiện phạm tội của Bị cáo Lương Chầu T: 01 điện thoại Iphone 6S màu bạc, không gắn sim; Trả lại Bị cáo Lương Chầu T: 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu vàng, gắn 01 sim (Tạm giữ của Bị cáo T nhưng không phải là vật chứng);
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước tổng số tiền Bị cáo T do phạm tội mà có (Số tiền Bị cáo đã nhận của khách mua số lô, số đề) là: 57.795.500 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bẩy triệu, bẩy trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm đồng), được trừ vào tổng số tiền 46.545.500 đồng (Gồm có: Số tiền 12.690.000 đồng Bị cáo T bị tạm giữ tại Cơ quan điều tra ngày 20/12/2024 và số tiền 33.855.500 đồng Bị cáo T giao nộp tại Cơ quan điều tra ngày 25/02/2025). Bị cáo T còn phải nộp vào ngân sách Nhà N1 số tiền là: 11.250.000 đồng (Bằng chữ: Mười một triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng);
- Lưu hồ sơ vật chứng của vụ án: 02 bảng ghi số lô, số đề ngày 20/12/2024; 02 tờ tích kê ghi các số lô, số đề: 73-550n, 3 số 573-550n, lô: 77, 99, 72, 34, 40, 80, 27 (20 điểm 1 con) = 3.150.000 đồng (Bút lục số 18 đến 20);
Về trách nhiệm dân sự: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của các Bị cáo: Lời khai nhận tội của Bị cáo Lương Chầu T và Nguyễn Minh H1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các Bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để xác định: Ngày 20/12/2024, tại số nhà C phố N, tổ dân phố H T, phường P, quận N, thành phố Hà Nội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã bắt quả tang Lương Chầu T bán số lô, số đề cho nhiều người và chuyển cho Nguyễn Minh H1 với tổng số tiền tổ chức đánh bạc là: 58.298.500 đồng (Bằng chữ: Năm mươi tám triệu, hai trăm chín mươi tám nghìn, năm trăm đồng) để thu lợi bất chính số tiền là: 2.769.250 đồng (Bằng chữ: Hai triệu, bẩy trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm năm mươi đồng).
Hành vi nêu trên của Bị cáo Lương Chầu T và Nguyễn Minh H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố Bị cáo Lương Chầu T và Nguyễn Minh H1 về tội danh và khung hình phạt như đã viện dẫn, là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của các Bị cáo không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn xâm phạm đến đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà Nước về phòng chống các tệ nạn xã hội, còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Các Bị cáo T và H1 phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi tổ chức đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng với động cơ tư lợi, mục đích nhằm thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc, các Bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, các Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các Bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trước khi phạm tội, các Bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; Sau khi phạm tội, các Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Bị cáo H1 ra đầu thú, Bị cáo T đã tự nguyện nộp 3/4 số tiền Bị cáo do phạm tội mà có, nên các Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các Bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các Bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử cho các Bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, không cần thiết phải cách ly các Bị cáo ra khỏi xã hội, cho các Bị cáo được hưởng án treo, giao các Bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi các Bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục các Bị cáo trong thời gian thử thách, Gia đình các Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các Bị cáo, cũng có tác dụng giáo dục các Bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
[3] Về đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với các Bị cáo là chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các Bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt đối với các Bị cáo thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên.
[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử nhận thấy các Bị cáo đều không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Đ a, b Khoản 2, Đ a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước công cụ, phương tiện phạm tội của Bị cáo Lương Chầu T: 01 điện thoại Iphone 6S màu bạc, không gắn sim; Trả lại Bị cáo Lương Chầu T: 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu vàng, gắn 01 sim (Tạm giữ của Bị cáo T nhưng không phải là vật chứng);
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước tổng số tiền Bị cáo T do phạm tội mà có (Số tiền Bị cáo đã nhận của khách mua số lô, số đề) là: 57.795.500 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bẩy triệu, bẩy trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm đồng), được trừ vào tổng số tiền 46.545.500 đồng (Gồm có: Số tiền 12.690.000 đồng Bị cáo T bị tạm giữ tại Cơ quan điều tra ngày 20/12/2024 và số tiền 33.855.500 đồng Bị cáo T giao nộp tại Cơ quan điều tra ngày 25/02/2025). Bị cáo T còn phải nộp vào ngân sách Nhà N1 số tiền là: 11.250.000 đồng (Bằng chữ: Mười một triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng);
- Lưu hồ sơ vật chứng của vụ án: 02 bảng ghi số lô, số đề ngày 20/12/2024; 02 tờ tích kê ghi các số lô, số đề: 73-550n, 3 số 573-550n, lô: 77, 99, 72, 34, 40, 80, 27 (20 điểm 1 con) = 3.150.000 đồng (Bút lục số 18 đến 20);
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không;
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lương Chầu T và Nguyễn Minh H1 phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”;
Xử phạt: Bị cáo Lương Chầu T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H1 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lương Chầu T cho Ủy ban nhân dân phường P, quận N, thành phố Hà Nội; Giao bị cáo Nguyễn Minh H1 cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện H, thành phố Hà Nội, để giám sát, giáo dục các Bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các Bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Đ a, b Khoản 2, Đ a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước công cụ, phương tiện phạm tội của Bị cáo Lương Chầu T: 01 điện thoại Iphone 6S màu bạc, không gắn sim; Trả lại Bị cáo Lương Chầu T: 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu vàng, gắn 01 sim (Có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận vật chứng số: 134 ngày 11/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội);
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước tổng số tiền Bị cáo T do phạm tội mà có là: 57.795.500 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bẩy triệu, bẩy trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm đồng), được trừ vào số tiền 46.545.500 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi sáu triệu, năm trăm bốn mươi lăm nghìn, năm trăm đồng), (Công an quận N đã nộp tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội ngày 07/3/2025 tại Kho bạc N2) Bị cáo T còn phải nộp vào ngân sách Nhà N1 số tiền là: 11.250.000 đồng (Bằng chữ: Mười một triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng);
- Lưu hồ sơ vật chứng của vụ án: 02 bảng ghi số lô, số đề ngày 20/12/2024 (Bút lục số 18 đến 20);
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Về án phí: Bị cáo T, H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Lệ T3 |
Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tổ chức đánh bạc)
- Số bản án: 51/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án
