|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 51/2025/HS-ST Ngày 26-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Minh Khiết và Lê Văn Khanh.
- Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Hoà-Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 448/2024/TLST-HS, ngày 24 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn T, sinh năm 1981, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú và cư trú hiện nay: nhà số H, đường L, Khu phố H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Q và bà Lê Thị B; có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ ngày 10-8-2024 (tính theo Biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang do Công an phường B, quận B lập lúc 22 giờ ngày 10-8-2024), hủy bỏ Quyết định tạm giữ và thay thế biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20-8-2024 đến nay; bị cáo tại ngoại “có mặt”.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Lê Văn C, sinh năm 1991. Nơi thường trú và cư trú hiện nay: nhà số D, đường N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (cán bộ Đội Cảnh sát Giao thông P-thuộc Phòng C1-Công an Thành phố C1) “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 35 phút ngày 10/8/2024, Tổ công tác Số 1 và Số B-Đội Cảnh sát Giao thông P-thuộc Phòng C1-Công an Thành phố C1 (các thành viên đều có trang bị đầy đủ quân phục) làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý nồng độ cồn một điểm tại giao lộ đường Quốc Lộ A và Đường Số G, thuộc phường B, quận B theo Kế hoạch số 430/KH-PL, ngày 03/8/2024 của Đội Cảnh sát giao thông P thì nhìn thấy: Lê Văn T đang điều khiển xe môtô biển số 52N3-7645 và anh Trần Văn K đang điều khiển xe môtô biển số 52L8-5704 chạy trên đường có biểu hiện nghi vấn về tình trạng trong người có sử dụng rượu bia nên anh Lê Văn C là cán bộ Tổ tuần tra Số 1 ra hiệu lệnh cho anh K và T dừng xe lại để kiểm tra nồng độ cồn theo quy định. Khi đó, anh K chấp hành hiệu lệnh xuống xe và thổi máy đo nồng độ cồn; còn T, tuy có xuống xe nhưng không chịu thổi máy đo nồng độ cồn để kiểm tra mà lại dùng lời lẽ thô tục chửi anh C rồi dùng tay kẹp cổ anh C quật vào tủ trụ điện tại chốt giao thông nhằm để được anh C cho qua, không bị xử phạt và tạm giữ xe. Lúc này, do anh K nhào tới từ phía sau ôm T kéo ra để can ngăn nên cũng bị T chửi rồi T điện thoại cho anh ruột là Lê Văn T1 nhờ đến xin bỏ qua và đưa xe về dùm thì một lúc sau anh T1 đến gặp T. Khi đó, anh T1 hỏi T “có việc gì”, T vừa chỉ tay về phía anh C, vừa trả lời “em bị bắt xe và bị đánh”; anh T1 nói với anh C “nếu nó vi phạm say xỉn, mấy anh còng nó lại, sao đánh nó”; anh C trả lời là “Cơ quan Công an không đánh em của anh mà yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn” rồi tiếp tục yêu cầu T thổi máy đo nồng độ cồn để kiểm tra. Nhưng T không chấp hành mà tiếp tục dùng lời lẽ thô tục chửi anh C và dùng tay trái đấm 01 cái trúng vào mặt anh C làm cho anh C bị té ngã xuống đường; anh T1 thấy vậy nên kêu lên “đừng T ơi”. Sau đó, T tiếp tục chạy đến chỗ anh C thì liền bị anh T1 và người dân xung quanh đến khống chế bắt giữ T giao cho Công an phường B xử lý người có hành vi phạm tội quả tang. Sau khi tiếp nhận sự việc và lập hồ sơ ban đầu xong, Công an phường B đã chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, T đã khai nhận toàn bộ hành vi như vừa mới nêu trên. Lời khai này phù hợp với lời khai của anh C, lời khai của những người làm chứng, hình ảnh trích từ camera và cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có hồ sơ nên T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Chống người thi hành công vụ”; riêng về hành vi đánh anh C của T, do anh C có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự đối với T nên T không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này. Riêng anh T1, do không có bất kỳ hành vi hay động thái gì chống đối anh C kể cả Tổ công tác nên không bị xử lý.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Văn T đã khai nhận: sau khi bị cáo uống rượu bia cùng với một số người bạn làm chung công ty thì bị cáo điều khiển xe môtô biển số 52N3-7645 chạy về nhà. Trên đường về đến giao lộ Quốc Lộ A và Đường Số G thì bị Cảnh sát Giao thông là anh Lê Văn C ra hiệu cho bị cáo dừng xe lại. Lúc đó, tuy bị cáo có dừng xe lại và xuống xe, nhưng khi anh C yêu cầu bị cáo thổi máy đo nồng độ cồn để kiểm tra thì bị cáo không những không chấp hành mà còn dùng lời lẽ thô tục chửi anh C rồi dùng tay kẹp cổ anh C quật vào tủ trụ điện tại chốt giao thông nhằm để được anh C cho qua, không bị xử phạt và tạm giữ xe thì có người vào can ngăn. Lúc này, do có uống rượu bia, không kềm chế được bản thân nên bị cáo đã chửi luôn cả người can ngăn là anh Trần Văn K rồi mới gọi điện thoại kêu anh ruột tên là Lê Văn T1 đến xin bỏ qua và đưa xe về dùm. Khi anh T1 đến có hỏi bị cáo “việc gì” thì bị cáo vừa chỉ tay về phía anh C, vừa nói “em bị bắt xe và bị đánh”; lúc anh T1 đứng nói với anh C “nếu nó vi phạm say xỉn, mấy anh còng nó lại, sao đánh nó”, anh C trả lời “Cơ quan Công an không đánh em của anh mà yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn” và vừa nói lời yêu cầu bị cáo thổi máy đo nồng độ cồn để kiểm tra thì bị cáo dùng tay trái đấm 01 cái vào mặt anh C làm anh C bị té ngã xuống đường. Lúc đó, anh T1 vừa kêu dứt câu “đừng T ơi” thì bị cáo liền bị anh T1 và người dân xung quanh khống chế bắt giữ giao cho Công an giải quyết nên nay bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Quyết định đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về trách nhiệm dân sự; riêng về 01 cái áo thun, 01 cái quần dài và 01 đôi giày của bị cáo còn bị tạm giữ thì không yêu cầu nhận lại.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 02/QĐ-VKSQ.BT, ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Văn Trung ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội chống người thi hành công vụ”, theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: trong lúc bị cáo Lê Văn T điều khiển xe môtô biển số 52N3-7645 chạy trên đường, bị cáo không những không chấp hành yêu cầu thổi máy đo nồng độ cồn để kiểm tra của anh Lê Văn C là Cảnh sát Giao thông mà còn có hành vi chửi bằng lời lẽ thô tục và dùng vũ lực đối với anh C để cản trở việc thi hành công vụ của anh C nhằm làm cho anh C không thể tiếp tục thực thi công vụ được giao. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tự trị an mà còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước nên cần phải xử lý bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên Quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù về “Tội chống người thi hành công vụ”, nhưng cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Còn về trách nhiệm dân sự, do anh anh Lê Văn C không yêu cầu gì đối với bị cáo nên không có ý kiến. Riêng về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy gồm: 01 cái áo thun màu xanh đen, 01 cái quần dài màu xanh đen và và 01 đôi giày màu đen.
Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố; còn lời nói sau cùng thì xin được hưởng án treo để có cơ hội sửa sai và điều kiện làm ăn nuôi sống gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Xét riêng về Quyết định số: 02/QĐ-VKSQ.BT, ngày 18/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố bị cáo T theo thủ tục rút gọn là không phù hợp về trình tự, thủ tục tố tụng bởi do: tuy vụ án này có đủ điều kiện “Áp dụng thủ tục rút gọn”, theo quy định tại khoản 1 Điều 456 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Nhưng sau khi Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo T vào ngày 20/8/2024 lại không ra Quyết định “Áp dụng thủ tục rút gọn”, theo quy định tại khoản 1 Điều 457 Bộ luật Tố tụng Hình sự nên Tòa án không thể ra Quyết định “Áp dụng thủ tục rút gọn” mà phải giải quyết vụ án này theo thủ tục chung thì mới phù hợp với quy của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Lê Văn T tại phiên tòa hôm nay cho thấy: vào lúc 19 giờ 35 phút ngày 10/8/2024, tại giao lộ đường Quốc Lộ A và Đường Số G, thuộc phường B, quận B. Bị cáo đã điều khiển xe môtô biển số 52N3-7645 tham giao thông trên đường với tình trạng trong người có sử dụng uống rượu bia nên đã bị anh Lê Văn C là cán bộ Đội Cảnh sát Giao thông P-thuộc Phòng Cảnh sát Giao thông - Công an Thành phố C1 ra hiệu dừng xe lại để kiểm tra nồng độ cồn và khi đó, bị cáo biết rất rõ đã vi phạm quy định của pháp luật về tham gia giao thông đường bộ. Tuy nhiên, lúc bị cáo có dừng xe và xuống xe, bị cáo không những không chấp hành thổi máy đo nồng độ cồn để kiểm tra theo yêu cầu của anh C mà lại có hành vi chửi anh C bằng những lời lẽ thô tục rồi dùng vũ lực đối với anh C (từ chối giám định thương tích) nhằm răn đe, uy hiếp anh C kể cả các đồng nghiệp của anh C với mong muốn làm cho anh C và các thành viên khác trong Tổ công tác chấm dứt việc thực thi công vụ nhằm có lợi cho bị cáo là được điều khiển xe chạy đi và không phải chịu bất kỳ chế tài nào. Do đó, bị cáo Lê Văn T đã phạm “Tội chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang, camera ghi hình; biên bản nhận dạng, xem xét dấu vết trên thân thể; biên bản, bản ảnh khám nghiệm hiện hiện trường, thực nghiệm điều tra...nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Riêng đối với hành vi của bị cáo đánh anh C, do anh C có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo nên không có căn cứ để xem xét. Còn anh T1, tuy là anh ruột của bị cáo và có mặt tại hiện trường, nhưng do anh không có bất kỳ hành vi hay động thái gì chống đối anh C kể cả Tổ công tác nên không bị xử lý là phù hợp.
[4] Xét, mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo ít nghiêm trọng nhưng không những trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan Nhà nước mà còn làm giảm hiệu lực quản lý của các cơ quan Nhà nước. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên cần xử phạt bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm giữ gìn trật tự kỷ cương của pháp luật, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: bị cáo đã bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đồng thời, không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành án phạt tù mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, cho bị cáo hưởng án treo theo như đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên cũng đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: xét tại phiên tòa hôm nay, tuy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn C đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt nhưng theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì, anh C tự nguyện không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì đối với bị cáo nên cần ghi nhận.
[6] Về vật chứng: Đối với chiếc xe môtô biển số 52N3-7645 mà bị cáo điều khiển lúc xảy ra sự việc trên là của cha bị cáo là ông Lê Q và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung của bị cáo, Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho ông Q và bị cáo nên không xét. Riêng đối với 01 cái áo thun màu xanh đen, 01 cái quần dài màu xanh đen và và 01 đôi giày màu đen (đã qua sử dụng của bị can Lê Văn T) của bị cáo mặc lúc thực hiện hành vi phạm tội, do bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[7] Bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- - Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm tù về “Tội chống người thi hành công vụ”, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày 26-02-2025.
Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn C không yêu cầu bị cáo Lê Văn T bồi thường thiệt hại.
3. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 cái áo thun màu xanh đen, 01 cái quần dài màu xanh đen và và 01 đôi giày màu đen (đã qua sử dụng của bị can Lê Văn T).
(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK25/93TV, ngày 23/12/2024)
4. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo Lê Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh anh Lê Văn C vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Ái |
Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội chống người thi hành công vụ
- Số bản án: 51/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội chống người thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T “Tội chống người thi hành công vụ”
