TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HS-ST
Ngày 26/2/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hưng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Thu; ông Nguyễn Hữu Xuyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lụa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2000; Giới tính: Nam
HKTT: Tổ dân phố 7, thị trấn Ma Đa Guôi, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ý, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Xuân Hằng, sinh năm 1973; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Không
- Tiền án, tiền sự: Không
- Nhân thân: Ngày 09/3/2021 Công an thị trấn Ma Đa Guôi, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” số tiền 1.500.000 đồng, thi hành xong ngày 10/5/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
Phùng Quang T, sinh năm 2004; Giới tính: Nam
HKTT: Thôn Tam Đô, xã Hoàng Hoa Thám, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Minh Thùy, sinh năm 1979 và bà Vũ Thị Hồng, sinh năm 1982; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 02; Vợ, con: Không
- Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2024 đến ngày 20/11/2024. Thay thế biện pháp ngăn chặn bằng Bảo lãnh. Có mặt tại phiên tòa.
Thần A T, sinh năm 2001; Giới tính: Nam
HKTT: Bản Dền Thàng, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thần A Mìn, sinh năm 1961 và bà Chang Tả Mẩy, sinh năm 1964; Gia đình có 09 chị em, bị cáo là con thứ 04; Vợ, con: Không
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Anh Nguyễn Văn Thăng, sinh năm 1980; (vắng mặt)
Chị Ngô Thị Thảo, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Cùng trú tại thôn Đại Sơn, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Xuân Hằng, sinh năm 1973; HKTT: Tổ dân phố 7, thị trấn Ma Đa Guôi, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng; (vắng mặt)
Anh Ngô Viết Huấn, sinh năm 1984;
HKTT: Tân Hội, Tân Tiến, Chương Mỹ, Hà Nội. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Ngày 28/10/2024, anh Nguyễn Văn Thăng ở thôn Đại Sơn, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du làm đơn trình báo đến Công an huyện Tiên Du, về việc vào ngày 12/10/2024, anh bị Nguyễn Thành Đ, Thần A T, Phùng Quang T và Ngô Viết Tuấn Đạt lừa đảo chiếm đoạt số tiền 5.200.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã tiến hành điều tra, làm rõ nội dung vụ án như sau:
Nguyễn Thành Đ, Thần A T, Phùng Quang T và Ngô Viết Tuấn Đạt đều là nhân viên của Công ty TNHH cung ứng nhân lực 27/7 Trọng Uy, có địa chỉ: Nhà số 10, ngách 43, ngõ 219 phố Định Công Thượng, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội, người đại diện theo pháp luật là anh Đặng Trọng Uy, sinh năm 1984 trú tại C0314, Tòa CT 1A, Lô đất No23, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội. Công việc của Đạt ở Công ty là nhân viên giới thiệu việc làm. Đạt sử dụng Facebook cá nhân “Thành Đạt” đăng bài tuyển dụng lao động làm các công việc như: cơ khí, điện nước, nhà hàng, chăn nuôi, phụ xây, may mặc... ngoài ra còn tìm nguồn lao động tại khu vực bến xe Mỹ Đình và các công ty khác trên địa bàn Hà Nội để cung cấp cho người có nhu cầu. Khi khách hàng có nhu cầu thuê lao động ngành nghề nào thì liên hệ qua điện thoại với Đạt, qua trao đổi nếu khách đồng ý, Đạt sẽ đưa người lao động đến tận nhà cho khách hàng có nhu cầu thuê, ký hợp đồng, Đạt thu phí môi giới là 1.500.000đ/ 01 người lao động và tiền cước xe ô tô từ Hà Nội đến nhà của khách hàng (Đạt được công ty chi trả 15% số tiền môi giới của một khách hàng). Qua công việc của bản thân, Đạt nảy sinh ý định lừa đảo khách hàng có nhu cầu thuê lao động. Đạt bàn bạc với Thần A T, Phùng Quang T và Ngô Viết Tuấn Đạt về việc khi khách có nhu cầu thuê lao động, liên hệ, đồng ý thuê người thì Đạt sẽ đưa nhóm Thiên, Trung và Tuấn Đạt đến để ký hợp đồng với khách hàng, nhận tiền môi giới, cước xe. Sau khi nhận tiền môi giới, Đạt sẽ đi về còn Thiên, Trung và Tuấn Đạt sẽ ở lại làm việc với người thuê lao động rồi tìm cơ hội trốn về văn phòng của công ty tại Xuân Phương, Nam Từ Liêm, Hà Nội. Khi về, Đạt sẽ thanh toán cho Thiên, Trung và Tuấn Đạt mỗi người được số tiền 300.000 đồng đến 500.000 đồng từ số tiền chiếm đoạt của khách hàng, số tiền còn lại Đạt hưởng lợi hết.
Ngày 12/10/2024, anh Thăng cùng vợ là chị Ngô Thị Thảo, sinh năm 1985 vào mạng xã hội Facebook, thấy tài khoản “Thanh Thư” có đăng bài môi giới lao động. Chị Thảo liên hệ với số điện thoại để lại ở bài đăng để đặt vấn đề thuê lao động làm công việc phụ hồ cho gia đình. Qua nhóm môi giới, Đạt mua lại đơn của tài khoản “Thanh Thư” trên rồi dùng số điện thoại 0868.301.xxx của Đạt liên hệ với chị Thảo (Đạt giới thiệu với anh Thăng tên là Trần Hữu Quý). Sau khi trao đổi, thống nhất, ngày 14/10/2024, Đạt thuê xe taxi chở Đạt cùng Thiên, Trung và Tuấn Đạt đi từ Bến xe Mỹ Đình về thôn Đại Sơn, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du để ký hợp đồng với anh Thăng. Do Thiên không mang căn cước công dân, Tuấn Đạt chưa đủ tuổi 18 tuổi nên Đạt bảo Thiên sử dụng tên Tẩn Kim Thành, sinh năm 2002 ở xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tuấn Đạt sử dụng tên Vũ Diệp Hiếu ở thôn Chính Thượng, xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang để nói với người ký hợp đồng. Đạt sử dụng hợp đồng giới thiệu việc làm có đóng dấu đỏ của Công ty, ký chữ ký của anh Đặng Trọng Uy để ký kết hợp đồng với anh Thăng, chị Thảo. Sau khi ký hợp đồng xong, anh Thăng, chị Thảo chuyển tiền vào tài khoản 331301020, Ngân hàng Mbbank mang tên TRAN HUU QUY của anh Trần Hữu Quý, sinh năm 1987, trú tại số 5, ngõ 123 Phương Canh, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội là em họ của anh Đặng Trọng Uy (đây là tài khoản của Công ty anh Uy nhờ anh Quý mở để nhân viên công ty giao dịch với khách hàng, tài khoản này Đạt được giao sử dụng) số tiền 5.200.000 đồng trong đó tiền môi giới là 4.500.000 đồng và 700.000 đồng tiền cước xe. Đạt nhận tiền sau đó đi xe taxi về văn phòng công ty. Anh Thăng đưa nhóm Trung về phòng trọ để chờ đi làm. Đến buổi chiều cùng ngày, Trung, Thiên, Tuấn Đạt bỏ trốn về Hà Nội. Đạt chia cho Trung, Thiên, Tuấn Đạt mỗi người 400.000 đồng. Đến tối ngày 12/10/2024, anh Thăng đi đến khu trọ để gọi nhóm Trung đi ăn cơm nhưng không thấy, không có số điện thoại liên lạc. Chị Thảo liên lạc với Đạt hỏi về việc này thì Đạt khất lần nói sẽ cung ứng bù lại người lao động. Sau đó, Đạt ngắt liên lạc với chị Thảo. Do không liên lạc được với Đạt, ngày 28/10/2024, vợ chồng anh Thăng đã đến cơ quan công an trình báo sự việc.
Đến ngày 29/10/2024, sau khi biết anh Thăng làm đơn trình báo, Đạt, Trung, Thiên và Tuấn Đạt đã đến cơ quan công an đầu thú, khai nhận hành vi của bản thân.
Nguyễn Thành Đ tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, số seri: C39ZM9ZMN6Y2, bên trong lắp sim điện thoại Viettel, bên ngoài có ốp nhựa màu đen.
Phùng Quang T tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, số máy: MT6H2LL/A, số seri: F2MXGLUJKPHF, bên trong lắp sim điện thoại Viettel và số tiền 400.000 đồng Trung hưởng lợi.
Thần A T tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số máy MNR82LL/A, số seri: F2LTX3PGHG03, bên trong lắp sim điện thoại Viettel.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định chiếc điện thoại của Đạt sử dụng vào việc phạm tội, 02 chiếc điện thoại di động của Trung và Thiên không sử dụng vào việc phạm tội.
Ngày 20/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du ra Quyết định số 1950, trưng cầu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định chữ ký, chữ viết đứng tên Đặng Trọng Uy tại 03 Hợp đồng giới thiệu việc làm ghi ngày 14/10/2024 lần lượt giới thiệu người lao động là Vũ Diệp Hiếu (ký hiệu A1), Phùng Quang T (ký hiệu A2) và Tẩn Kim Thành (ký hiệu A3) có phải chữ ký, chữ viết do anh Đặng Trọng Uy viết không. Mẫu dấu được đóng ở mục “đại diện bên B” tại hợp đồng ký hiệu A2, A3 có phải là của Công ty TNHH Cung ứng nhân lực 27/7 Trọng Uy không.
Tại Bản kết luận giám định số: 2744/KL-KTHS ngày 28/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận: “Chữ ký, chữ viết đứng tên Đặng Trọng Uy trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) và chữ ký đứng tên Đặng Trọng Uy trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A2, A3) so với chữ ký, chữ viết của Đặng Trọng Uy trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu A1) không phải do cùng một người ký, viết ra; Hình tròn dấu đỏ có nội dung “CÔNG TY TNHH CUNG ỨNG NHÂN LỰC 27/7 TRỌNG UY” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A2, A3) so với hình dấu tròn đỏ có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu A2) là do cùng một con dấu đóng ra”.
Về vật chứng chưa xử lý: 03 chiếc điện thoại di động có gắn sim hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Tiên Du và số tiền 800.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 11/12/2024, chị Nguyễn Thị Xuân Hằng, sinh năm 1973 ở thị trấn Ma Đa Guôi, huyện Đại Huoai, tỉnh Lâm Đồng (mẹ đẻ của bị cáo Đạt) đã bồi thường cho vợ chồng anh Nguyễn Văn Thăng số tiền 5.200.000 đồng. Sau khi nhận số tiền trên, vợ chồng anh Thăng không có ý kiến gì khác, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Ngày 10/12/2024, anh Ngô Viết Huấn, sinh năm 1984 là bố đẻ của Ngô Viết Tuấn Đạt tự nguyện giao nộp số tiền 400.000 đồng khắc phục hậu quả cho Ngô Viết Tuấn Đạt. Anh Huấn không yêu cầu Tuấn Đạt phải trả lại cho anh số tiền này.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thành Đ, Phùng Quang T, Thần A T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời nhận tội của Nguyễn Thành Đ, Phùng Quang T, Thần A T phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Với nội dung trên, bản cáo trạng số 10/CT-VKS – TD ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tiên Du để xét xử các bị cáo Nguyễn Thành Đ, Phùng Quang T, Thần A T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 174; Điều 17; 58; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 BLHS.
- xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 08 đến 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam từ ngày 29/10/2024.
Áp dụng khoản 1, Điều 174; Điều 17; 58; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 BLHS.
- xử phạt bị cáo Phùng Quang T từ 06 đến 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là từ 12 đến 16 tháng.
- xử phạt bị cáo Thần A T từ 06 đến 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là từ 12 đến 16 tháng. Trả tự do cho bị cáo Thiên tại phiên tòa nếu không bị giam giữ về tội phạm khác.
Giao bị cáo Thần A Thiêm và Phùng Quang T cho UBND nơi bị cáo cư trú trong thời gian được hưởng án treo và thử thách.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, số seri: C39ZM9ZMN6Y2. Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại Viettel; 01 ốp nhựa màu đen của Đạt dùng vào việc phạm tội.
Trả lại cho Phùng Quang T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, số máy: MT6H2LL/A, số seri: F2MXGLUJKPHF, bên trong lắp sim điện thoại Viettel, Thần A T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số máy MNR82LL/A, số seri: F2LTX3PGHG03, bên trong lắp sim điện thoại Viettel. Không dùng vào việc phạm tội, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Về dân sự vụ án:
Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết, có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo. Nên không giải quyết ở vụ án này. Đối với số tiền 800.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thần A T vì bị cáo thuộc hộ cận nghèo sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Qua công việc của bản thân, Đạt nảy sinh ý định lừa đảo khách hàng có nhu cầu thuê lao động. Đạt bàn bạc với Thần A T, Phùng Quang T và Ngô Viết Tuấn Đạt về việc khi khách có nhu cầu thuê lao động, liên hệ, đồng ý thuê người thì Đạt sẽ đưa nhóm Thiên, Trung và Tuấn Đạt đến để ký hợp đồng với khách hàng, nhận tiền môi giới, cước xe. Sau khi nhận tiền môi giới, Đạt sẽ đi về còn Thiên, Trung và Tuấn Đạt sẽ ở lại làm việc với người thuê lao động rồi tìm cơ hội trốn về văn phòng của công ty. Khi về đến công ty, Đạt sẽ thanh toán cho Thiên, Trung và Tuấn Đạt mỗi người được số tiền 300.000 đồng đến 500.000 đồng từ số tiền chiếm đoạt của khách hàng, số tiền còn lại Đạt hưởng lợi hết, Thiên, Trung, Tuấn Đạt đồng ý.
Ngày 12/10/2024, anh Thăng cùng vợ là chị Ngô Thị Thảo, vào mạng xã hội Facebook, thấy tài khoản “Thanh Thư” có đăng bài môi giới lao động. Chị Thảo liên hệ với số điện thoại để lại ở bài đăng để đặt vấn đề thuê lao động làm công việc phụ hồ cho gia đình. Qua nhóm môi giới, Đạt mua lại đơn của tài khoản “Thanh Thư” trên rồi dùng số điện thoại 0868.301.xxx của Đạt liên hệ với chị Thảo (Đạt giới thiệu với anh Thăng tên là Trần Hữu Quý). Sau khi trao đổi, thống nhất, ngày 14/10/2024, Đạt thuê xe taxi chở Đạt cùng Thiên, Trung và Tuấn Đạt đi từ Bến xe Mỹ Đình về thôn Đại Sơn, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du để ký hợp đồng với anh Thăng. Do Thiên không mang căn cước công dân, Tuấn Đạt chưa đủ tuổi 18 tuổi nên Đạt bảo Thiên sử dụng tên Tẩn Kim Thành, sinh năm 2002 ở xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tuấn Đạt sử dụng tên Vũ Diệp Hiếu ở thôn Chính Thượng, xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang để nói với người ký hợp đồng. Đạt sử dụng hợp đồng giới thiệu việc làm có đóng dấu đỏ của Công ty, ký chữ ký của anh Đặng Trọng Uy để ký kết hợp đồng với anh Thăng, chị Thảo. Sau khi ký hợp đồng xong, anh Thăng, chị Thảo chuyển tiền vào tài khoản 331301020, Ngân hàng Mbbank mang tên TRAN HUU QUY của anh Trần Hữu Quý, sinh năm 1987, trú tại số 5, ngõ 123 Phương Canh, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội là em họ của anh Đặng Trọng Uy (đây là tài khoản của Công ty anh Uy nhờ anh Quý mở để nhân viên công ty giao dịch với khách hàng, tài khoản này Đạt được giao sử dụng) số tiền 5.200.000 đồng trong đó tiền môi giới là 4.500.000 đồng và 700.000 đồng tiền cước xe. Đạt nhận tiền sau đó đi xe taxi về văn phòng công ty. Anh Thăng đưa nhóm Trung về phòng trọ để chờ đi làm. Đến buổi chiều cùng ngày, Trung, Thiên, Tuấn Đạt bỏ trốn về Hà Nội. Đạt chia cho Trung, Thiên, Tuấn Đạt mỗi người 400.000 đồng. Đến tối ngày 12/10/2024, anh Thăng đi đến khu trọ để gọi nhóm Trung đi ăn cơm nhưng không thấy, không có số điện thoại liên lạc. Chị Thảo liên lạc với Đạt hỏi thì Đạt khất nói sẽ cung ứng bù lại người lao động nhưng không làm. Với hành vi dùng thủ đoạn trên Viện kiểm sát truy tố các bị cáo tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tài sản của công dân mà còn làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong xã hội. Nên cần phải xử lý áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại có đơn xin cho các bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thành Đ tác động gia đình bồi thường cho người bị hại, có ông nội ông ngoại tham gia kháng chiến được tặng huân chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Gia đình bị cáo Trung đang thờ cúng liệt sỹ.
Trong vụ án này có tính chất đồng phạm, nhưng giản đơn, không có sự phân công bàn bạc. Trong vụ án này bị cáo Đạt có vai trò chính, chủ mưu, xúi giục người chưa đủ 18 tuổi phạm tội mặc dù không coi là tình tiết tăng nặng nhưng cũng cần phải xém xét, bị cáo có nhân thân xấu. Quá trình điều tra bị cáo còn khai nhận: Ngoài thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 5.200.000 đồng của vợ chồng anh Nguyễn Văn Thăng ngày 12/10/2024, thì khoảng đầu tháng 10 năm 2024 tại địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên các bị cáo còn thực hiện 02 lần chiếm đoạt tiền khác. Tuy nhiên, chưa làm rõ được thời gian, địa điểm, thông tin của người bị hại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã có Công văn trao đổi với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang. Qua rà soát, ngày 17/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang, Hưng Yên có Công văn số 302/CQĐT trả lời trong thời gian từ tháng 9/2024 đến tháng 10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang chưa tiếp nhận, thụ lý các vụ việc, tin báo, tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua môi giới thuê lao động phổ thông, xác minh thông tin, tìm người bị hại, chưa có kết quả.
Đối với bị cáo Trung và bị cáo Thiên cùng thực hiện hành vi với Đạt, song có vai trò thấp hơn Đạt, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo Đạt ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho xã hội. Không cần phải cách ly bị cáo Trung và bị cáo Thiên ra khỏi xã hội, để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng giáo dục thành người tốt.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần phải áp dụng đối với các bị cáo, nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, số seri: C39ZM9ZMN6Y2. Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại Viettel; 01 ốp nhựa màu đen dùng vào việc phạm tội.
Trả lại cho Phùng Quang T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, số máy: MT6H2LL/A, số seri: F2MXGLUJKPHF, bên trong lắp sim điện thoại Viettel; Thần A T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số máy MNR82LL/A, số seri: F2LTX3PGHG03, bên trong lắp sim điện thoại Viettel không dùng vào việc phạm tội, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Đối với số tiền 800.000 đồng các bị cáo nộp không nhận lại, nên sung ngân sách nhà nước.
[8] Về dân sự vụ án: Bị hại đã được bồi thường, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường thay cho các bị cáo và không yêu cầu giải quyết. Nên không giải quyết ở vụ án này.
Liên quan trong vụ án này có: Đối với Ngô Viết Tuấn Đạt, khi thực hiện hành vi phạm tội Đạt chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Tiên Du chỉ tiến hành giáo dục, nhắc nhở đối với Đạt là phù hợp.
Đối với hành vi của Nguyễn Thành Đ tự ký, viết họ tên của anh Đặng Trọng Uy vào các hợp đồng giới thiệu việc làm. Quá trình điều tra anh Uy trình bày: Hợp đồng giới thiệu việc làm anh Uy soạn trước nội dung, điều khoản, đóng dấu sẵn, để trống một số mục khi giao dịch tự điền thông tin và để tại văn phòng công ty. Nhiều lần do có việc gấp nên anh đã đồng ý cho Đạt tự ký tên anh vào hợp đồng để giao dịch với khách hàng rồi báo cáo lại cho anh. Đối với những hợp đồng do Nguyễn Thành Đ đã ký anh đồng ý và không có ý kiến gì. Do vậy không xem xét xử lý đối với Nguyễn Thành Đ về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Đối với anh Đặng Trọng Uy là giám đốc Công ty TNHH Cung ứng lao động 27/7 Trọng Uy, anh Uy không biết, Đạt, Trung, Thiên, Tuấn Đạt không nói cho anh Uy biết việc lợi dụng Công ty lừa đảo chiếm đoạt tiền môi giới của khách hàng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du không xử lý đối với anh Uy là phù hợp.
Quá trình điều tra các bị can còn khai nhận: Ngoài thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 5.200.000 đồng của vợ chồng anh Nguyễn Văn Thăng ngày 12/10/2024, với phương thức thủ đoạn tương tự khoảng đầu tháng 10 năm 2024 tại địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên các bị can còn thực hiện 02 lần chiếm đoạt tiền khác. Tuy nhiên, các bị can không rõ được thời gian, địa điểm, thông tin của người bị hại. Đối với nội dung này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã có Công văn trao đổi với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang. Qua rà soát, ngày 17/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang, Hưng Yên có Công văn số 302/CQĐT trả lời như sau: Trong thời gian từ tháng 9/2024 đến tháng 10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang chưa tiếp nhận, thụ lý các vụ việc, tin báo, tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua môi giới thuê lao động phổ thông. xác minh thông tin, tìm người bị hại, đến nay chưa có kết quả. Do vậy, đối với nội dung nêu trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du tiếp tục điều tra, khi nào có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thần A T vì bị cáo hộ cận nghèo sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.
Bị cáo Nguyễn Thành Đ, Phùng Quang T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ; Phùng Quang T; Thần A T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Căn cứ vào khoản 1, Điều 174; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; 17; 58; 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thành Đ 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2024. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 174; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65; 17; 58 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo: Phùng Quang T 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 174; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65; 17; 58 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; khoản 4, Điều 328; Điều, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo: Thần A T 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu không bị giam, giữ về tội phạm khác.
Giao bị cáo Phùng Quang T cho UBND xã Hoàng Hoa Thám, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; Giao bị cáo Thần A T cho UBND xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Quản lý giáo dục các bị cáo trong thời giam được hưởng án treo và thử thách. (Trong thời gian hưởng án treo và thử thách nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự).
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, số seri: C39ZM9ZMN6Y2. Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại Viettel; 01 ốp nhựa màu đen. Sung số tiền 800.000 đồng vào ngân sách nhà nước.
Trả lại cho Phùng Quang T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, số máy: MT6H2LL/A, số seri: F2MXGLUJKPHF, bên trong lắp sim điện thoại Viettel; Thần A T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số máy MNR82LL/A, số seri: F2LTX3PGHG03, bên trong lắp sim điện thoại Viettel nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Miễn án phí hình sơ thẩm cho bị cáo Thần A T; Bị cáo Nguyễn Thành Đ, Phùng Quang T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Hưng |
Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 51/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Đ; Phùng Quang T;Thần A T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
