TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HS-ST Ngày 20 - 03 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Dương và ông Mai Văn Chương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an thị xã B, Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Ngô Xuân H, sinh ngày 26/12/1986 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Xuân H1, sinh năm 1959 và bà Ngô Thị C, sinh năm 1959; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2012/HSST ngày 26/10/2012. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, từ ngày 12/10/2024 cho đến nay, theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Văn T; sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
+ Bà Hoàng Thị Thu L; sinh năm 1979; nơi cư trú: Tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/10/2024, Ngô Xuân H đang ở nhà tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B thì nảy sinh ý định muốn mua ma túy để sử dụng nên H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73K5-8617 đến Khu phố A, phường B, thị xã B gặp một người đàn ông mang khẩu trang không rõ lai lịch đang đứng bên đường. H đi đến dò hỏi rồi mua được từ người đàn ông này 01 túi nilon trong suốt, được dán kín, bên trong chứa 18 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến với giá tiền 1.000.000 đồng. Hảo cất giấu số ma túy trên vào trong túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi H đi đến đoạn đường H thuộc khu phố E, phường B, thị xã B, thì bị Lực lượng Công an phường B, thị xã B kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các tang vật liên quan.
Tại Bản kết luận giám định số 1192/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 18 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược thu giữ từ Ngô Xuân H khi bị bắt quả tang là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,636g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Vật chứng và xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã thu giữ từ Ngô Xuân H bao gồm:
- - 01 túi nilon trong suốt, được dán kín, bên trong có chứa 18 viên ma túy, loại Methamphetamine. Theo kết quả giám định của Phòng K Công an tỉnh Q, tại kết luận số 1192/KL-KTHS, ngày 14/10/2024, có khối lượng 1,636g. Toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định đã được niêm phong bằng phong bì thư dán kín, ghi nội dung “1192/KL-KTHS” có chữ ký của những người niêm phong và dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Deehan, sơn màu nâu, BKS 73K5-8617, đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa bị cáo khai ngoài những vật chứng trên, thì Cán bộ điều tra còn thu giữ tài sản của bị cáo là hai chiếc điện thoại di động, nhưng bị cáo không sử dụng để làm phương tiện phạm tội nên đã trả lại cho người nhà là bố, mẹ của bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số: 48/CT-VKSBĐ ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Ngô Xuân H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Ngô Xuân H từ 18 đến 21 tháng tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên ngoài có ghi nội dung “1192/KL-KLHS” được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, bên trong có chất ma túy và toàn bộ vỏ bao gói; trả lại cho anh Trần Văn T 01 xe mô tô, BKS 73K5-8617. Buộc bị cáo Ngô Xuân H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa, có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố về cơ bản đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với việc thu giữ, xử lý tài sản của Cơ quan điều tra thấy rằng: Tại thời điểm bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo các đồ vật liên quan, trong đó có 02 (hai) điện thoại di động, nhưng không thể hiện trong biên bản và không tạm giữ để phục vụ cho quá trình điều tra mà đã trả lại cho người nhà của bị cáo, là không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, vi phạm thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khẳng định người bán ma túy cho bị cáo vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 11/10/2024, bị cáo hoàn toàn không quen biết, bị cáo chỉ tình cờ gặp rồi đặt vấn đề mua ma túy chứ không có liên lạc bằng điện thoại với nhau từ trước. Hiện tại, 02 (hai) chiếc điện thoại cũng đã trả lại và bố, mẹ của bị cáo là người trực tiếp nhận, tại phiên tòa bị cáo cũng nhất trí và không có ý kiến gì. Xét thấy việc vi phạm thủ tục tố tụng của Cơ quan Điều tra, không làm thay đổi nội dung bản chất của vụ án, không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của người tham gia tố tụng trong vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án mà không cần thiết phải trả hồ sơ điều tra bổ sung.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Ngô Xuân H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và được thẩm tra tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ về thời gian, địa điểm, khối lượng chất ma tuý, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: vào khoảng 21 giờ, ngày 11/10/2024, tại đoạn đường H thuộc Khu phố E, phường B, thị xã B, bị cáo Ngô Xuân H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, số lượng 18 viên. Theo Kết luận giám định, khối lượng ma túy là 1,636 gam. Nguồn gốc ma túy là do bị cáo đã mua của một người đàn ông không quen biết vào thời gian khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày với giá 1.000.000 đồng. Bị cáo tàng trữ số ma túy trên nhằm mục đích để sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo Ngô Xuân H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại chất ma tuý, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu, năm 2012, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thế nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, mà thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, dẫn đến tiếp tục phạm tội. Vì vậy căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự để quyết định đối với bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo đã có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự tại Đồn Biên phòng E – Bộ đội Biên phòng tỉnh Q, từ tháng 10 năm 2007 đến tháng 01 năm 2009; Bố của bị cáo đã có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét mức độ giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4] Xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định là loại chất mà nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô BKS 73K5-8617 là phương tiện mà bị cáo Ngô Xuân H đã sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thu thập trong quá trình điều tra thể hiện, giấy đăng ký xe mang tên Hoàng Thị Thu L, trú tại thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình được Phòng C1 Công an tỉnh Q cấp vào ngày 23/7/2003, (BL34). Sau đó chị L đã bán lại cho anh Trần Văn T, sinh năm 1979, trú tại: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (là anh rễ của bị cáo Ngô Xuân H) (BL 55, 56, 57). Vì vậy xác định tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của của anh Trần Văn T. Quá trình bị cáo Ngô Xuân H mượn sử dụng vào việc phạm tội, anh T hoàn toàn không biết, nên cần áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho anh T là phù hợp.
Riêng hai chiếc điện thoại di động đã thu giữ và trả lại cho người nhà của bị cáo, như đã phân tích ở mục [1], nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[5] Liên quan trong vụ án có người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, nhưng do bị cáo không biết rõ tên, tuổi cụ thể, nên chưa có cơ sở để xử lý trong vụ án này. Việc Cơ quan điều tra tiếp tục lập hồ sơ theo dõi, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau là phù hợp.
[6] Án phí: Bị cáo Ngô Xuân H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Xuân H 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/10/2024).
Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo cho việc thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được dán kín, bên ngoài có ghi nội dung “1192/KL-KLHS” được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, bên trong có chất ma túy và toàn bộ võ bao gói.
Trả lại cho anh Trần Văn T 01 xe mô tô, BKS 73K5-8617.
Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn.
- Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Xuân H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/12/2024) đối với người có mặt hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định đối với người vắng mặt./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Tình |
Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 51/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
