|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HS-ST
Ngày 04 tháng 6 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Việt Thắng
- 2. Ông Nguyễn Công Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hương- Là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Tình- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2025/TLST-HS, ngày 21 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 đối với:
Bị cáo: Phạm Thị Minh T, sinh năm 1978; Nơi sinh: Tại tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Phạm Minh T1, sinh năm 1955; Con bà Bùi Thị O, sinh năm 1959; chồng: Trần Văn V (đã chết); Con: có 03 người con (Lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2004); Anh chị em ruột có 05 người, (Lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1987); Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 08/12/2024, khởi tố chuyển tạm giam đến nay.
Bị cáo đang tạm giam có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 08/12/2024, Phạm Thị Minh T đang ở phòng trọ thuộc ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau gọi điện cho Sy N (không rõ nhân thân lai
lịch) qua số điện thoại 0815.569.xxx hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá và 01 nỏ thủy tinh thì N đồng ý. Khoảng 14 giờ 10 đêm ma túy đến bỏ ở hàng bông bụp gần chỗ T ở trọ rồi điện thoại cho T ra lấy. Sau khi T lấy đoạn ống hút hít hằn hai đầu bên trong có ma túy đá và nỏ thủy tinh xong thì T để lại tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng rồi điện thoại cho N lại lấy tiền. Đến 14 giờ 30 phút, T lấy ma túy và nỏ thủy tinh vừa mua được để vào túi sách và cất túi sách trong cốp xe máy hiệu Attila màu đỏ, biển số kiểm soát 93F1-134.86 của T rồi điều khiển đi xuống đường từ nhà trọ đến nhà nghỉ V1 thuộc khóm A, thị trấn S để sử dụng cùng với thanh niên tên T2 (không rõ nhân thân), khi đến sảnh đậu xe của nhà nghỉ V1 thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
*/ Vật chứng thu giữ: 01 phong bì hoàn mẫu; 01 khăn giấy; 01 túi sách màu vàng nâu; 01 nỏ thủy tinh; 01 điện thoại di động hiệu Oppo loại A83, có lắp sim số 0836105401; 01 xe máy hiệu SYM, loại Attila màu đỏ, biển số kiểm soát 93F1-134.86.
*/ Kết luận giám định số 676/KL-KTHS ngày 14/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh C kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong ống nhựa màu trắng hằn kín miệng, niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2164gam, loại Methamphetamine.
*/ Tại Cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 19/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố Phạm Thị Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T3 truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy” là đúng, không oan sai; Các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là do bị cáo tự nguyện khai; không ai ép cung, mớm cung gì đối với bị cáo.
Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu quan điểm luận tội đối với bị cáo là giữ nguyên cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 19 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, phạt bị cáo T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì hoàn mẫu, được niêm phong, trên phong bì có chữ ký, chữ viết tên Lâm Minh Đ, Dương Hải Đ1; 01 khăn giấy; 01 nỏ thủy tinh; Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 túi sách màu vàng nâu; 01 điện thoại di động hiệu Oppo loại A83, có lắp sim số 0836105401, 036818612. Trả lại cho bị cáo: 01 xe máy hiệu SYM, loại Attila màu đỏ, biển số kiểm soát 93F1-134.86.
Bị cáo không tham gia tranh luận chỉ nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Lúc 14 giờ 30 phút ngày 08/12/2024, lực lượng Công an thị trấn S bắt quả tang bị cáo Phạm Thị Minh T đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong cốp xe máy tại nhà nghỉ V thuộc khóm A, thị trấn S, huyện T. Lực lượng tiến hành khám xét thu giữ: 01 đoạn ống hút hít hằn hai đầu để trong túi sách bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt dạng rắn màu trắng là ma túy.
Bị cáo T khai số ma túy trên bị cáo có được là do bị cáo mua của người khác tên Sy N. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch. Bị cáo đem xuống nhà nghỉ V1 thuộc khóm A, thị trấn S nhằm mục đích để bị cáo sử dụng với người tên T2 nhưng chưa sử dụng được thì bị bắt. Trong quá trình điều tra không chứng minh được người bán ma túy cho bị cáo nên bị cáo phải chịu toàn bộ số ma túy mà bị cáo cất giữ khi bị bắt quả tang.
[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định số 676/KL-KTHS ngày 14/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh C kết luận: Tổng khối lượng 0,2164gam, loại Methamphetamine.
Như vậy, đoạn ống hút hít hằn hai đầu của bị cáo thu giữ bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng là ma túy đá và chất ma túy này bị Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ với mọi hình thức. Hành vi tàng trữ ma túy để nhằm mục đích sử dụng của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, có tổng khối lượng 0,2164gam. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mọi hình thức là vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, mục đích tàng trữ để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu
cầu cá nhân, do bị cáo đã từng sử dụng ma túy. Hành vi đó còn làm phát sinh thêm một số tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục riêng cho bản thân bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Xử lý vật chứng: 01 Phong bì hoàn mẫu, được niêm phong, trên phong bì có chữ ký, chữ viết tên Lâm Minh Đ, Dương Hải Đ1. Xét thấy, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 khăn giấy; 01 nỏ thủy tinh. Xét thấy không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với: 01 túi sách màu vàng nâu; 01 điện thoại di động hiệu Oppo loại A83, có lắp sim số 0836105401, 0368186120. Bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với 01 xe máy hiệu SYM, loại Attila màu đỏ, biển số kiểm soát 93F1-134.86 là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo
[6] Đối với việc bị cáo khai nhận mua ma túy của người tên N, rồi đem ma túy đến nhà nghỉ V để sử dụng cùng với người tên T2. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tách ra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ nếu có căn cứ xử lý sau.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 106, 260, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Căn cứ Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Minh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Minh T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt quả tang, ngày 08/12/2024.
3. Về biện pháp tư pháp: Tuyên bố tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì hoàn mẫu, được niêm phong, trên phong bì có chữ ký, chữ viết tên Lâm Minh Đ, Dương Hải Đ1; 01 khăn giấy; 01 nỏ thủy tinh. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 túi sách màu vàng nâu; 01 điện thoại di động hiệu Oppo loại A83, có lắp sim số 0836105401, 0368186120. Trả lại cho bị cáo: 01 xe máy hiệu SYM, loại Attila màu đỏ, biển số kiểm soát 93F1-134.86.
(Các vật chứng trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đang quản lý theo biên bản giao nhận ngày 19/5/2025).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Thị Minh T phải nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (chưa nộp).
5. Bản án này là sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Cà Mau (1b);
- - VKSND huyện Trần Văn Thời (1b);
- - Nhân trại giam khu vực huyện Trần Văn Thời –Trại TG, Công an tỉnh Cà Mau (1b);
- - THADS huyện Trần Văn Thời (1b);
- - Bị cáo (1b);
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 04/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 51/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 01 năm tù
