Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-PT

Ngày: 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Quốc Bảo.
Các Thẩm phán:Ông Đinh Tấn Long;
Ông Lê Minh Tân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Quốc Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 332/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Trần Ngọc T, do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 99/2024/HS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Bị cáo bị kháng nghị: Trần Ngọc T, sinh 10/10/1999; nơi sinh: xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn H, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần M và bà Nguyễn Thị C; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2024 cho đến nay. Có mặt.

Ngoài ra, còn có các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Xuân G không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 16/01/2024, Trần Ngọc T đến nhà Trần Văn H uống cà phê. T rủ H mua ma túy về sử dụng nhưng H nói không có tiền nên T đi về. Sau đó, Nguyễn Thành T2 đến thì H hỏi T2 có tiền không góp vào mua ma túy về sử dụng, T2 đồng ý góp 80.000 đồng, H góp 120.000 đồng. Lúc này, H gọi điện thoại qua ứng dụng messenger cho T nói: “ta có hai trăm đây, mi coi có chỗ mô lấy được không?”. Lúc này, T gọi qua messenger cho anh Nguyễn Thanh H1 nhờ anh H1 liên hệ với Nguyễn Xuân G để mua ma túy thì Hòa đồng ý. Anh H1 gọi qua messenger của Nguyễn Xuân G nói với G có thằng bạn gần nhà muốn mua ma túy thì G gửi số điện thoại của G qua cho H1 rồi H1 chuyển cho T để T liên hệ trực tiếp với G mua ma túy. Tiếp đó, T sử dụng điện thoại 0703.282.xxx gọi qua số 0772.466.659 của G để mua ma túy thì G hẹn T ra chỗ đường biển đi Đà Nẵng. Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô hiệu Winner biển kiểm soát 92D1-589.77 (xe này thuộc sở hữu của Nguyễn Thanh T1) chở T đến địa điểm hẹn lấy ma túy. Trên đường đi, H nói với T “xíu ra đưa một trăm thôi còn nợ một trăm tôi với ông về nạp game chơi” thì T đồng ý. Khi H và T đến ngã ba T (thuộc phường Đ, thị xã Đ) gặp G. G đưa cho T 01 gói ma túy rồi T đưa G 100.000 đồng và nói cho nợ 100.000 đồng, hẹn lần sau lấy tiếp trả thì G đồng ý. Sau khi lấy được ma túy, cả hai về lại nhà H. T nói với H và T1 ra khu vực lò vôi cũ thuộc thôn T, xã D để sử dụng ma túy thì H và T1 đồng ý. Hạ đến chỗ hàng rào lưới B40 nhà H lấy dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa có chứa nước lọc bên trong, nắp màu đen có gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu xanh, 01 bật lửa màu đỏ rồi T1 chở H đi trước. Lúc này, do không có xe nên T gọi cho H1 nhờ H1 chở đến khu vực lò vôi cũ. Khi đến nơi, H1 hỏi T “đến đây làm chỉ”, T trả lời “đập đá” nghĩa là sử dụng ma túy. H1 hỏi “nhiều không cho H1 sử dụng với” thì T đồng ý. H1 đi với T vào khu vực bên trong lò vôi cũ. Tại đây, H1 thấy có H và T1. T lấy gói ma túy đổ vào nỏ thủy tinh, T1 bật lửa khò nóng ma túy tạo thành khói trong chai nước rồi lần lượt từng người sử dụng ma túy. Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi sử dụng ma túy xong thì tất cả đi về. Sau đó, Công an xã D mời Trần Ngọc T, Trần Văn H và Nguyễn Thanh T1 về làm việc.

Tại Kết luận giám định số: 179/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:

  • Chất lỏng trong suốt bên trong chai nhựa nêu ở mục 1.1 gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine; thể tích mẫu là 400ml; nồng độ Methamphetamine trong mẫu là 0,019mg/ml; khối lượng Methamphetamine có trong 400ml mẫu là 7,6mg (0,0076gam).
  • Chất rắn màu trắng bám dính bên trong ống thủy tinh nêu ở mục 1.2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; lượng chất rắn màu trắng bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
  • Trong mẫu chất lỏng màu vàng (nước tiểu) ghi thu của Trần Ngọc T nêu ở mục 1.3, Trần Văn H nêu ở mục 1.4, Nguyễn Thanh H1 nêu ở mục 1.5 và Nguyễn Thanh T1 nêu ở mục 1.6 gửi giám định đều có tìm thấy chất ma túy Methamphetamine.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 99/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 16/01/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 21/11/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 41/QĐ-VKSDX, kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số: 99/2024/HS -ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam theo hướng không áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự 2015 và tăng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Trần Ngọc T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Ngọc T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T là không đúng; bởi lẽ, quá trình bị cáo Trần Ngọc T cùng đồng phạm mua ma túy để tổ chức sử dụng, T biết rõ người bán ma túy cho mình là Nguyễn Xuân G ở Thôn E, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Thế nhưng, khi lấy lời khai, hỏi cung và nhận dạng lần thứ nhất vào ngày 07/5/2024 thì bị cáo T khai chỉ biết người này tên “G”, còn thông tin về nhân thân, lai lịch thì không rõ, dẫn đến bỏ lọt hành vi phạm tội trong giai đoạn điều tra ban đầu. Sau đó, trên cơ sở quy định về sử dụng thuê bao chính chủ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên đã trả hồ sơ để làm rõ hành vi phạm tội của Nguyễn Xuân G, thì bị cáo T mới khai nhận biết rõ (nhận dạng được) Nguyễn Xuân G là người bán ma túy cho mình. Do đó, bị cáo T chỉ thành khẩn khai báo chứ không tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T là không đúng nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt, không áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T và xử phạt bị cáo T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Bị cáo Trần Ngọc T không tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam có Quyết định kháng nghị phúc thẩm theo đúng quy định tại Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 08 giờ ngày 16/01/2024, Trần Văn H có hành vi rủ Nguyễn Thanh T1 góp tiền mua ma túy để sử dụng, bị cáo T1 góp 80.000 đồng, bị cáo H góp 120.000 đồng. Bị cáo T thông qua Nguyễn Thanh H1 được H1 gửi số điện thoại của bị cáo Nguyễn Xuân G để T trực tiếp liên lạc với G để mua ma túy. Bị cáo H điều khiển xe mô tô chở bị cáo T ra Đà Nẵng để T gặp bị cáo G mua 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 200.000 đồng (bị cáo T đưa bị cáo G 100.000 đồng và nợ 100.000 đồng). Sau đó, các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thanh T1, Trần Ngọc T bàn bạc việc sử dụng ma túy. Do không có xe nên T nhờ H1 chở đến nơi sử dụng ma túy, khi đến nơi H1 mới biết mọi người sử dụng ma túy nên xin vào sử dụng tại khu vực lò vôi cũ thuộc thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 99/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Trần Ngọc T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo T chủ động khai báo người bán ma túy cho T là Nguyễn Xuân G để tạo điều kiện phát hiện ra tội phạm và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Ngọc T là không đúng pháp luật. Bởi lẽ, mặc dù biết rõ nhân thân, lai lịch của bị cáo Nguyễn Xuân G nhưng khi cho nhận dạng lần đầu, bị cáo T khai không nhận dạng được và khai rằng chỉ biết người bán ma túy cho bị cáo tên là G, chứ không rõ nhân thân, lai lịch; việc Cơ quan điều tra phát hiện, xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân G là do truy xuất từ số điện thoại của bị cáo G, không phải do bị cáo T chủ động khai báo. Do áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không đúng dẫn đến Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo T dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng không đúng quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, không áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo T và tăng hình phạt đối với bị cáo.
  4. Về án phí hình sự phúc thẩm: do Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên thuộc trường hợp không phải chịu án phí theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  5. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 41/QĐ-VKSDX ngày 21/11/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 99/2024/HS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo Trần Ngọc T.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 16/01/2024.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (26/02/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - CQTHAHS CA tỉnh Q.Nam;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Q.Nam;
  • - VKSND H. Duy Xuyên;
  • - TAND H. Duy Xuyên;
  • - Chi cục THADS H. Duy Xuyên;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Q.Nam;
  • - Phòng HSNV Sở Tư pháp Q.Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 51/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo: Trần Ngọc T - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger