TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HS-PT Ngày: 19 – 06 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Ông Phùng Văn Định
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Quan Tuấn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Đặng Thành T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2025/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Đặng Thành T, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1982 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: tiếp thị; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn C và bà Nguyễn Thị R; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. (Có mặt)
- Trần Vũ L, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1987 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: ấp T, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N và bà Lê Thị T1; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)
- Lê Duy T2, sinh ngày 14 tháng 4 năm 1986 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: số I, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: thợ hàn cửa sắt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn O và bà Đặng Thị T3; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 28 tháng 9 năm 2015 bị Công an huyện V - tỉnh Bạc Liêu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” với số tiền 1.500.000đ, ngày 21 tháng 11 năm 2019 bị Công an huyện V - tỉnh Bạc Liêu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc với hình thức đá gà ăn tiền” với số tiền 1.500.000đ. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Văn N1, là Luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Văn N1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt)
- Phạm Văn Đ, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1986 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Huỳnh Thị T4; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: bà Cao Thị Túy G, là Luật sư của Văn phòng L1 và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 20 tháng 6 năm 2024 đến ngày 21 tháng 6 năm 2024, bị cáo T có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức cá cược bóng đá tại trận đấu vòng chung kết EURO 2024, với bị cáo L, bị cáo T2, bị cáo Đ và một số đối tượng khác, được thua bằng tiền với nhau, trong đó từng bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền từ đủ 5.000.000đ trở lên như sau:
- - Bị cáo Đặng Thành T 03 lần gồm: ngày 20 tháng 6 năm 2024, trận đấu bóng đá giữa đội Serbia với S số tiền 34.000.000đ và trận bóng đá giữa đội Anh với Đan M số tiền 28.750.000đ; ngày 21 tháng 6 năm 2024, trận đấu bóng đá giữa đội Tây Ban Nha với I số tiền đánh bạc là 33.500.000đ.
- - Bị cáo Trần Vũ L 03 lần gồm: ngày 20 tháng 6 năm 2024, trận đấu bóng đá giữa đội Serbia với S số tiền 16.500.000đ và trận bóng đá giữa đội Anh với Đan M số tiền 9.800.000đ; ngày 21 tháng 6 năm 2024, trận đấu bóng đá giữa đội Tây Ban Nha với I số tiền 16.600.000đ.
- - Bị cáo Lê Duy T2 01 lần ngày 21 tháng 6 năm 2024, trận đấu bóng đá giữa đội Tây Ban Nha với I số tiền 6.850.000đ.
- - Bị cáo Phạm Văn Đ 01 lần ngày 20 tháng 6 năm 2024, trận đấu bóng đá giữa đội Serbia với S số tiền 7.000.000đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2025/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Đặng Thành T, Trần Vũ L, Phạm Văn Đ và Lê Duy T2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đặng Thành T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Vũ L 09 (chín) tháng tù.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Duy T2 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 05 (năm) tháng tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 28 tháng 3 và ngày 4 tháng 4 năm 2024 các bị cáo kháng cáo như sau: bị cáo T và bị cáo T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo; bị cáo L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Đ kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- - Người bào chữa cho bị cáo T2 phát biểu ý kiến tranh tranh luận như sau: tội “Đánh bạc” là tội phạm có cấu thành vật chất nên bị cáo T2 và bị cáo T có tham gia cá cược và nhắn tin với nhau trên Zalo nhưng hai bên chưa giao và tính tiền cược nên không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Cho dù, cấu thành nhưng số tiền chỉ 6.850.000đ nên không chỉ dựa vào việc bị cáo đã từng bị phạt hành chính 02 lần mà không cho bị cáo được áp dụng Điều 54 để hạ khung hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo là không phù hợp. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần hoặc toàn bộ kháng cáo của bị cáo.
- - Người bào chữa cho bị cáo Đ trình bày ý kiến tranh luận: thống nhất về tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã xử bị cáo. Bản án sơ thẩm đã thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt nên bị cáo có đủ các điều kiện để hưởng án treo, đồng thời hiện nay bị cáo phải nuôi cha ruột đang bị tai biến, bị cáo thường xuyên phải chở đi điều trị. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- - Bị cáo T2 và bị cáo Đ không có ý kiến tranh luận bổ sung và giữ nguyên kháng cáo.
- - Bị cáo T và bị cáo L không có ý kiến tranh và giữ nguyên kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các bị cáo thừa nhận đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức cá cược bóng đá với mục đích được thắng thua bằng tiền mà không được Cơ quan có thẩm quyền cho phép, với số tiền dùng vào việc đánh bạc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và dưới 50.000.000đ nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Mặc dù, bị cáo T2 và bị cáo T chưa giao nhận tiền cá cược và tiền thắng cược nhưng hai bị cáo đã xác định số tiền cược thông qua nhắn tin Zalo và trận đấu đã kết thúc nên người bào chữa cho rằng hành vi của bị cáo T2 không cấu thành tội “Đánh bạc” là không phù hợp nên không được chấp nhận.
[3] Xét kháng bị cáo T và bị cáo L:
Bị cáo T đánh bạc 03 lần với số tiền cao nhất là 34.000.000đ nên bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo được Ủy ban nhân dân tỉnh B tặng Bằng khen năm 2012 do có thành tích trong công tác và có ông nội là ông Đặng Văn M1 có công cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng II; để từ đó, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù.
Bị cáo L: bị cáo đánh bạc 03 lần với số tiền cao nhất là 16.600.000đ nên bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú. Bị cáo tham gia đánh bạc 03 lần như bị cáo T, nhưng do số tiền bị cáo thấp hơn nên cấp sơ thẩm phạt bị cáo mức án 09 tháng tù.
Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, tại cấp phúc thẩm các bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới; đồng thời mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo đã phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo
[4] Xét kháng cáo của bị cáo T2 và bị cáo Đ: hai bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Cho nên, chỉ có hai bị cáo đủ tình tiết giảm nhẹ để được xem xét cho hưởng án treo; tuy nhiên bị cáo T2 đã từng bị phạt hành chính 02 lần cùng hành vi đánh bạc nhưng bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo không đảm bảo tính răn đe và ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và quyết định hình phạt đã phù hợp với các căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo không có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Từ đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T2 và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo.
Đối với bị cáo Đ ngoài việc chưa bị phạt hành chính như bị cáo T2, bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là có bà nội là Mẹ Việt Nam anh hùng. Ngoài ra, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo, do việc không cần phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo sẽ không gây nguy hiểm cho xã hội và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
[5] Bên cạnh đó, bản án sơ thẩm cần rút kinh nghiệm do bản án thực hiện không đúng theo mẫu về phần lý lịch của bị cáo được quy định tại Nghị quyết.
[6] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Các bị cáo Đặng Thành T, Trần Vũ L và Lê Duy T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.
Bị cáo Phạm Văn Đ không phải chịu.
[7] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tuyên bố các bị cáo Đặng Thành T, Trần Vũ L, Lê Duy T2 và Phạm Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Thành T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Vũ L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Duy T2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 65; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 05 (năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm. Thời gian thử thách được tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 19 tháng 6 năm 2025).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Đặng Thành T, Trần Vũ L và Lê Duy T2: mỗi bị cáo nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.
- Căn cứ vào Điều 343 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có liên quan đến kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Thành T, Trần Vũ L và Lê Duy T2.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Tấn |
Bản án số 51/2025/HS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 51/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa cho 1 BC án treo
