Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-PT

Ngày: 04-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng và ông Nguyễn Anh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàn, Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 26/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo Huỳnh Thanh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2024/HS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Thanh T, sinh năm 1994, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Thanh T1 và bà Võ Thị T2; vợ: Ngô Thị Thủy T3 và 02 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Ngoài ra trong vụ án còn có 02 bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thanh T là nhân viên bảo vệ của Công ty L1 được phân công làm bảo vệ cho Tổng Công ty T9 đang thi công cao tốc Bắc Nam đoạn V - P tại km 143 + 675m thuộc thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Trước đó, T đã thông

đồng với những tài xế lái xe lu của Công ty để lấy trộm dầu DO trong xe bán cho Nguyễn Văn L 02 lần mỗi lần khoảng 3 đến 4 can nhựa loại 30 lít.

Tiếp đến, vào buổi trưa ngày 20/3/2023, bị cáo L gọi điện thoại cho bị cáo T nói “Tôi có gì gọi cho anh” tức liên hệ để mua dầu, bị cáo T nói “để tối, có gì thì gọi chứ bây giờ thì chưa biết”. Đến chiều tối cùng ngày bị cáo T gọi điện thoại cho bị cáo L nói “có dầu bán rồi, tối có gì em gọi chạy lên”. Lúc này, bị cáo L đang ngồi nhậu với Phạm Thanh T4 tại nhà của bị cáo L, bị cáo L nói với bị cáo T4 “lần này số lượng dầu khá nhiều, mày mua không tạo nhượng lại những máy phải đi chở” (vì trước đó L và T4 đã thực hiện 02 lần chở dầu do T bán) bị cáo T4 đồng ý đi chở nhưng không trả lời mua hay không.

Lúc khoảng 22 giờ ngày 20/3/2023, khi các xe lu làm xong công trình về bãi tập kết tại khu vực chân cầu vượt xã P, huyện T, giao tài sản cho bị cáo T quản lý, đồng thời các lái xe xe liên hệ với bị cáo T để hút dầu do trong các thùng dầu xe đã cạn kiểm lỗi, mỗi can dầu DO loại 30 lít bán giá tiền 400.000 đồng thì bị cáo T được hưởng lợi 60.000 đồng, các tài xế hưởng 340.000 đồng.

Cụ thể, lái xe Trần Văn T5 chỉ cho bị cáo T hút dầu trong xe lu của T5 số lượng 03 can dầu, chi cho bị cáo T hút dầu trong xe của Nguyễn Việt H 02 can dầu, hút dầu trong xe của Phạm Quốc D 03 can dầu. Lái xe Huỳnh Quốc Đ1 chỉ cho bị cáo T hút dầu trong xe của Đ1 01 can dầu, chi cho bị cáo T hút dầu trong xe của Võ Văn K 01 can dầu. Lái xe Nguyễn Tiến Đ chỉ cho bị cáo T hút dầu trong xe của Đ 02 can dầu, chi cho bị cáo T hút dầu trong xe của Nguyễn Văn P 02 can dầu. Lái xe Bùi Chí T6 chỉ cho bị cáo T hút dầu trong xe của T6 01 can dầu. Lái xe Dương Văn M chỉ cho T hút dầu trong xe của Mỹ 01 can dầu. Lái xe Trương Ngọc T7 chỉ cho bị cáo T hút dầu trong xe của T7 01 can dầu. Sau đó bị cáo T điện thoại cho L biết số lượng dầu nhiều yêu cầu L mang can nhựa rỗng đến mua dầu.

Khoảng 22 giờ ngày 20/3/2023, bị cáo T4 chạy xe máy đến nhà bị cáo L thì bị cáo L đã chuẩn bị sẵn 08 can rỗng loại can 30 lít, thanh gỗ làm đòn chở và dây thun buộc, bị cáo L yêu cầu vợ là Bạch Thị T8 cùng chở dầu, các bị cáo L và T4 mỗi người một xe chở 04 can rỗng, T8 chạy xe một mình đến vị trí hãm chui cao tốc cách nơi tập kết xe khoảng 1km thì T8 dừng lại đợi, bị cáo T chạy xe theo bị cáo L hướng về cầu vượt xã P nơi tập kết các xe lu gặp bị cáo T thì bỏ can nhựa xuống. Tại đây đã có 10 can nhựa loại 30 lít đã đầy dầu DO, lúc này L nói với bị cáo T4 “tao chở mấy can dầu này ra còn mày phụ nó” tức bảo bị cáo T4 phụ với bị cáo T hút dầu vào 08 can nhựa. Bị cáo L lấy 06 can dầu bỏ lên xe mô tô chở ra hầm chui nơi T8 đang đứng đợi, còn bị cáo T4 ở lại đứng ống nhựa có sẵn hút khoảng 4 đến 5 xe lu được 08 can dầu DO loại 30 lít theo sự chỉ dẫn của bị cáo T. Bị cáo L quay lại tiếp tục chở 06 can dầu loại 30 lít và đưa cho bị cáo T số tiền 7.200.000 đồng, bị cáo T4 chở 06 can dầu loại 30 lít cũng bị cáo L chạy đến chân cầu vượt rồi cùng nhau về nhà.

Trên đường đi về bị cáo T4 nói với bị cáo L bán lại cho bị cáo T4 06 can dầu loại 30 lít mà bị cáo T4 đang chở với giá 400.000 đồng/01 can thì bị cáo L

đồng ý nhưng bị cáo T4 chưa đưa tiền. Khi bị cáo T4 chở 06 can dầu DO về đến khu phố E thị trấn L, huyện T thì bị lực lượng Công an thị trấn L phát hiện. Thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu ETS màu đỏ biển số 86B1-494.79, 06 can nhựa loại 30 lít chứa dầu DO.

Ngày 22/3/2023, bị cáo L tự nguyện giao nộp cho Công an xã P, huyện T 12 can nhựa loại 30 lít bên trong có chứa dầu DO; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen. Đến ngày 23/3/2023, bị cáo L tự nguyện giao nộp 800.000 đồng. Ngày 22/3/2023, Công an xã P thu giữ của bị cáo T số tiền 1.480.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh đen, sau đó bị cáo T tự nguyện nộp lại số tiền 620.000 đồng.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐĐG ngày 30.5.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T, kết luận: 473 lít dầu DO trị giá: 20.910 đồng/lít x 473 lít = 9.890.430 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá: 9.890.430 đồng.

Quá trình điều tra, các bị cáo T và L còn khai nhận trước ngày 20/3/2023 khoảng 5 – 6 ngày, bị cáo T đã thông đồng với lái xe (không nhớ xe nào) hút dầu DO trong xe bán cho bị cáo L 03 đến 04 can dầu loại 30 lít với giá 400.000 đồng/can. Trước lần này cũng khoảng 5 – 6 ngày bị cáo T đã thông đồng với lái xe (không nhớ xe nào) hút dầu DO trong xe bán cho bị cáo L 03 đến 04 can dầu loại 30 lít với giá 400.000 đồng/can. Cả hai lần này bị cáo L có thuê bị cáo T4 đi chở dầu và trả tiền cho bị cáo T4 mỗi lần 300.000 đồng. Tuy nhiên, ông Bùi Đình H1 người được Tổng Công ty T9 ủy quyền chỉ xác định được sự việc ngày 20/3/2023, các ngày trước không biết sự việc thất thoát dầu nên không có căn cứ để xử lý.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại 30 can nhựa loại 30 lít chứa dầu DO cho ông Bùi Đình H1 người được Tổng Công ty T9 ủy quyền, ông H1 không yêu cầu gì thêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2024/HS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Văn L và Phạm Thanh T4 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt Nguyễn Văn L, Phạm Thanh T4 phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và xử phạt hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Đồng thời tuyên xử lý vật chứng; tiền án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ngày 17/12/2024, bị cáo Huỳnh Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị cáo Huỳnh Thanh T vẫn giữ nguyên kháng cáo.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2024/HSST ngày 09/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T làm trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Thanh T khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 20/3/2023 bị cáo Huỳnh Thanh T cùng Nguyễn Văn L, Phạm Thanh T4 đã lét lút chiếm đoạt 473 lít dầu DO trị giá 9.890.430 đồng của Tổng Công ty T9 đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thị bị phát hiện bắt quả tang.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, không oan. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo phạm tội lần đầu, đã khắc phục hậu quả; bị cáo hiện nay là trụ cột chính của gia đình, cha mẹ già, hai con rất nhỏ không ai chăm sóc, vợ không có công việc ổn định, sức khoẻ không tốt.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Huỳnh Thanh T là người khỏe mạnh, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, bị cáo không cố gắng lao động để tìm nguồn thu nhập hợp pháp để nuôi sống bản thân và gia đình mà lại cấu kết với các bị cáo khác thực hiện hành vi trộm dầu bán lấy tiền phân chia nhau tiêu xài. Mặc dù lần phạm tội này của bị cáo được xem là phạm tội lần đầu thuộc trường hơp ít nghiêm trọng nhưng qua lời khai của bị cáo và các bị cáo khác cho thấy ngoài lần phạm tội này trước đây bị cáo cũng đã từng cấu kết với các tài xế lái xe bồn để trộm cắp dầu bán lấy tiền tiêu xài. Mặc dù lần trộm tài sản này bị cáo không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì bị hại không yêu cầu, tuy nhiên cũng cần xem xét cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Trong vụ án này bị cáo là người khởi xướng và là người thực hành tội phạm tích cực nhất. Đồng thời bị cáo với vai trò, trách nhiệm là người bảo vệ của Công ty nhưng lại cấu kết với người khác trộm cắp tài sản nơi mình làm bảo vệ nên cần phải quyết định hình phạt đối với bị cáo nghiêm khắc hơn so với các đồng phạm khác là phù hợp. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Vì vậy, việc bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo không được Hội đồng xét xử chấp nhận mà cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T, Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2024/HS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bị cáo Huỳnh Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật tính kể từ ngày tuyên án (Ngày 04/4/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - TAND huyện Tuy Phong;
  • - Công an xã Phong Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HS-PT ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 51/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger