|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30-12-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Hoàng Thị Yến
Ông Đinh Xuân Nhuần
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 95/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 73/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thúy K, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn B, xã K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đồng Duy C, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn B, xã K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 18/9/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thúy K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2016 và có đăng ký kết hôn vào ngày 09/7/2018 tại UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng). Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng nhau tại thôn B, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng) cùng với bố mẹ anh C. Trong quá trình chung sống, giữa chị và anh C thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau về tính cách. Nhiều lần anh C có hành vi to tiếng, xúc phạm, thậm chí có đánh chị. Do mâu thuẫn vợ chồng quá lớn nên chị đã chuyển ra ngoài ở và sống ly thân với anh C từ đầu tháng 8/2025 đến nay. Nay, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là Đồng Thị Kim A, sinh ngày 30/11/2016 và Đồng Duy Quốc B, sinh ngày 10/7/2022. Ly hôn, chị đồng ý để anh C trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị sẽ tự thoả thuận với anh C, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ghi ngày 07/11/2025, bị đơn là anh Đồng Duy Công trình B1:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị K tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2016, nhưng đến năm 2018, anh chị mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh tại thôn B, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng). Trong quá trình chung sống, vợ chồng có thỉnh thoảng xảy ra mâu thuẫn tình cảm. Nguyên nhân là do, anh thỉnh thoảng có đi chơi với bạn bè, khi chị K có khuyên bảo thì lúc nóng giận lên, anh cũng có những lời nói, hành động làm tổn thương đến chị K. Gia đình anh biết chuyện vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thì cũng đã tác động, khuyên giải cho vợ chồng quay lại đoàn tụ nhưng chị K chưa đồng ý. Từ đầu tháng 8/2025, chị K chuyển ra ngoài ở và sống ly thân với anh. Anh cũng đã liên lạc, đi tìm chị K về nhưng chị K tránh mặt, không gặp. Nay, chị K làm đơn xin ly hôn, anh xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng quay về đoàn tụ.
Về con chung: Anh và chị K có 02 con chung là Đồng Thị Kim A, sinh ngày 30/11/2016 và Đồng Duy Quốc B, sinh ngày 10/7/2022. Hiện tại, các con đang ở cùng anh và do anh trực tiếp chăm sóc. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chị K vẫn thường xuyên qua lại thăm nom con cái. Trường hợp phải ly hôn, anh xin nhận nuôi dưỡng các con; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện tại tôi đang làm lao động tự do, có công việc, thu nhập ổn định và có chỗ ở đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được thể hiện: Chị K và anh C tự nguyện chung sống từ năm 2016 và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng vào năm 2018. Trong thời gian chung sống, do có nhiều khác biệt về quan điểm sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau nên anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống chung không hạnh phúc. Hiện nay, chị K và anh C đang sống ly thân và không còn quan tâm gì đến nhau. Chị K và anh C có 02 con chung là Đồng Thị Kim A, sinh ngày 30/11/2016 và Đồng Duy Quốc B, sinh ngày 10/7/2022. Các con hiện nay đang ở cùng và do anh C trực tiếp nuôi dưỡng.
Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K đối với anh C. Anh C có nguyện vọng xin nhận trực tiếp nuôi dưỡng các con và chị K cũng đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử giao các con cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, các đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, chị K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của các đương sự, kết quả xác minh, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án có yêu cầu giải quyết về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, bị đơn là anh Đồng Duy C có nơi cư trú tại thôn B, xã K, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Chị K vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh C vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ độ tuổi kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 63/2018, ngày 09/7/2018. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị K và anh C là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được xác định: Trong thời gian chung sống, do có nhiều khác biệt về quan điểm sống, không thống nhất được với nhau về mọi việc trong gia đình, thiếu sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau nên giữa chị K và anh C thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Mặc dù, vợ chồng đã nhiều lần cố gắng khắc phục, hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Anh C có nguyện vọng mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ, nhưng chị K cương quyết xin ly hôn. Xét thấy, chị K và anh C hiện nay đang sống ly thân, không còn thương yêu, trách nhiệm, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chung sống với nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K đối với anh C theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ, việc về hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị K và anh C có 02 con chung là Đồng Thị Kim A, sinh ngày 30/11/2016 và Đồng Duy Quốc B, sinh ngày 10/7/2022. Anh C có nguyện vọng xin được nhận trực tiếp nuôi dưỡng các con và chị K cũng đồng ý. Các con hiện đang sinh sống ổn định cùng anh C và có nguyện vọng được ở với anh C. Anh C có công việc, thu nhập ổn định, có chỗ ở đảm bảo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con nên cần áp dụng các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, giao các con cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị K và anh C không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị K và anh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị K là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Chị K và anh C có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thúy K được ly hôn anh Đồng Duy C.
-
Về con chung: Chị K và anh C có 02 con chung là Đồng Thị Kim A, sinh ngày 30/11/2016 và Đồng Duy Quốc B, sinh ngày 10/7/2022. Giao cháu Kim A và Quốc B cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 (mười tám) tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị K và anh C không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị K và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003588 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, chị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị K và anh C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành: theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hoàng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Đặng Thị Đôi |
Khúc Thị Minh |
Vũ Văn Hoàng |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thúy K được ly hôn anh Đồng Duy C
