Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - LÀO CAI

Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30/10/2025

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hương.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Hoà

2. Ông Hoàng Văn Ngân

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 65/TLST-HNGĐ ngày 08/8/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 19/9/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐST - HNGĐ ngày 10/10/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Triệu Thị M, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Bàn Ông L, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/8/2025 và bản tự khai của chị Triệu Thị M trình bày nội dung vụ án như sau:

Chị Triệu Thị M và anh Bàn Ồ Lỗ tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010, được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương. Đến ngày 10/01/2013 anh chị đã đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã T, tỉnh Lào Cai). Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, không tin tưởng nhau dẫn đến thường xuyên cãi nhau, anh L thường xuyên bỏ nhà đi mà không nói với chị là đi đâu, làm gì, thời gian đầu thì bỏ đi một vài ngày, sau đó nhiều lần bỏ đi cả tháng mới về nhà dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hoà giải nhưng không có kết quả mà ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị Triệu Thị M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bàn Ông L.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có ba con chung là cháu Bàn Khé N, sinh ngày 02/10/2010, cháu Bàn Ghến D, sinh ngày 18/04/2013 và cháu Bàn Thừa L1, sinh ngày 06/10/2015. Hiện nay các cháu đều khoẻ mạnh, phát triển bình thường, hiện nay đang ở cùng với chị. Khi ly hôn, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bàn Khé N, B D và Bàn Thừa L1 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Triệu Thị M không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn Anh Bàn Ông L: Sau khi Toà án thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần thực hiện thủ tục tống đạt cho anh B Ông Lỗ nhưng không gặp được anh L, Tòa án đã xác minh tại Công an xã T và thôn P, xã T, tỉnh Lào Cai, xác định anh Bàn Ổ Lỗ có đăng ký thường trú tại thôn P, xã T, tỉnh Lào Cai nhưng anh L đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Bàn Ồ Lỗ và tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án cho anh L nhưng anh L không có văn bản trả lời và cũng không đến Toà án làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên hòa giải anh L vắng mặt không có lý do, sau đó, chị Triệu Thị M có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiếp tục hòa giải theo quy định khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị M, xử cho chị Triệu Thị M được ly hôn anh Bàn Ông L.

Về con chung: Giao cháu Bàn Khé N, sinh ngày 02/10/2010, cháu Bàn Ghến D, sinh ngày 18/04/2013 và cháu Bàn Thừa L1, sinh ngày 06/10/2015 cho chị Triệu Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Bàn Ồ Lỗ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, anh Bàn Ồ Lỗ được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu giải quyết

Tuyên án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai theo khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Nguyên đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Bàn Ông L2 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị M và anh Bàn Ồ Lỗ tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010, được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương. Đến ngày 10/01/2013 anh chị đã đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã T, tỉnh Lào Cai) đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không cải thiện được. Đến nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn,mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bàn Ông L để sớm ổn định cuộc sống. Như vậy, có căn cứ xác định vợ chồng mâu thuẫn kéo dài, cuộc sống chung không hạnh phúc nên chấp nhận yêu cầu của chị Triệu Thị M.
  3. Về quan hệ con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong thời gian chung sống chị Triệu Thị M xác định chị và anh Bàn Ồ Lỗ có 03 con chung là cháu Bàn Khé N, sinh ngày 02/10/2010, cháu Bàn Ghến D, sinh ngày 18/04/2013 và cháu Bàn Thừa L1, sinh ngày 06/10/2015. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập nhiều lần nhưng anh L không đến viết bản tự khai và trình bày ý kiến, vì vậy Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết theo quy định của pháp luật. Sau khi vợ chồng sống ly thân anh L không quan tâm, chăm sóc và nuôi dưỡng các con, xét yêu cầu về việc xin được nuôi cả ba con chung của chị M và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ cần chấp nhận.

    Hội đồng xét xử nhận định chị Triệu Thị M có thu nhập hàng tháng ổn định có khả năng điều kiện, đảm bảo cuộc sống của bản thân và nuôi con chung, mặt khác từ khi anh chị xảy ra mâu thuẫn, anh L thỉnh thoảng mới về nhà, chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục cả ba cháu. Cháu N, cháu D và cháu L1 có đơn nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy, có căn cứ chấp nhận giao con chung cho chị Triệu Thị M nuôi dưỡng, không buộc anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung.

  4. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị Triệu Thị M không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Triệu Thị M phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho ly hôn giữa chị Triệu Thị M và anh Bàn Ông L. Quan hệ hôn nhân giữa chị Triệu Thị M và anh Bàn Ồ Lỗ chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Giao cháu Bàn Khé N, sinh ngày 02/10/2010, cháu Bàn Ghến D, sinh ngày 18/04/2013 và cháu Bàn Thừa L1, sinh ngày 06/10/2015 cho chị Triệu Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Bàn Ồ Lỗ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở quyền này. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó

  3. Về án phí: Chị Triệu Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Triệu Thị M đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 44 ngày 14/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

    Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh,
  • - VKSND khu vực 6-
  • - Phòng THADS khu vực 6-
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Tằng Loỏng,
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRiệu Thị M và Bàn Ông L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger