|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 -9 -2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA,
TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyên Vy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Truyền
- Ông Nguyễn Văn Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Quỳnh Bảo Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Hội trường xử án, Tòa án nhân dân dân Khu vực 5, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 97/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp vè nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Quỳnh N, sinh năm: 1987.
Địa chỉ: Số B T, phường P, tỉnh Khánh Hòa.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm:1982.
Địa chỉ: Số A N, phường N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt: Bà Võ Thị Quỳnh N, ông Nguyễn Hoàng T; bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25/02/2025 và quá trình tố tụng, Nguyên đơn bà Võ Thị Quỳnh N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hoàng T sau một thời gian tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân tự nguyện, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, TP . -T, tỉnh Ninh Thuận (nay thuộc phường P, tỉnh Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 07 tháng 4 năm 2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung đến tháng 5/2019 - thời điểm này mặc dù bà đang mang thai con thứ hai được 06 tháng nhưng do chồng bà nghiện ma túy, thường xuyên bạo lực, đánh đập, xúc phạm bà và gia đình bà nên bà bỏ về nhà cha mẹ bà sống cho đến nay. Thời gian xa nhau, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm, chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông Nguyễn Hoàng T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 09/5/2009, Nguyễn Mẫn N1, sinh ngày 14/10/2019. Từ khi vợ chồng sống ly thân, 02 con sống cùng bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con Hoàng L và Mẫn N1; hiện bà làm thâm mỹ thu nhập mỗi tháng đủ khả năng nuôi các con nên bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng ông Nguyễn Hoàng T trình bày:
Vợ chồng ông kết hôn năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc; nhưng từ năm năm trở lại đây, vợ chồng không còn sống chung. Thời gian xa nhau vợ chồng mạnh ai nấy sống nên không còn tình cảm. Tuy nhiên, ông không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 09/5/2009, Nguyễn Mẫn N1, sinh ngày 14/10/2019. Hiện 02 con đang sống cùng vợ. Khi ly hôn, ông đồng ý giao 02 con chung cho vợ trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, đương sự đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Võ Thị Quỳnh N yêu cầu được ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 09/5/2009, Nguyễn Mẫn N1, sinh ngày 14/10/2019. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T, mặc dù ông không đồng ý ly hôn; tuy nhiên ông T và bà N đều xác định tình cảm vợ chồng hiện không còn, riêng về giao người trực tiếp nuôi con, ông T đồng ý giao 02 con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, Bị đơn đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn có địa chỉ thường trú tại phường V, thành phố P – T, tỉnh Ninh Thuận (nay thuộc phường N, tỉnh Khánh Hòa) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận (nay Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Khánh Hòa) theo quy định tại Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa, Nguyên đơn và Bị đơn đều vắng mặt. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn.
- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Võ Thị Quỳnh N, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị Quỳnh N và ông Nguyễn Hoàng T được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.
- Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông T. Xét thấy, các bên đương sự Nguyên đơn, Bị đơn đều xác định vợ chồng không còn sống chung trong thời gian dài, thời gian xa nhau cả hai không quan tâm chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống, tình cảm vợ chồng hiện nay không còn. Điều này chứng tỏ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn bà Võ Thị Quỳnh N là phù hợp với Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về giao người trực tiếp nuôi con:
Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 09/5/2009, Nguyễn Mẫn N1, sinh ngày 14/10/2019. Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung, 02 con sống ổn định với mẹ, đảm bảo được sức khoẻ cũng như học tập của trẻ. Trẻ Hoàng L có nguyện vọng tiếp tục ở cùng mẹ. Hơn nữa, ý kiến của ông T thống nhất giao 02 con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung của Nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình
- Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.
- Về án phí: Bà Võ Thị Quỳnh N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Võ Thị Quỳnh N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Quỳnh N được ly hôn ông Nguyễn Hoàng T.
2. Về giao người trực tiếp nuôi con:
Bà Võ Thị Quỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 09/5/2009 và Nguyễn Mẫn N1, sinh ngày 14/10/2019.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con chung; không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
3. Về án phí: Bà Võ Thị Quỳnh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001052 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Võ Thị Quỳnh N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nguyên Vy |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: như - thuyên
