Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30- 5- 2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Trọng Kim và ông Lê Hoàng Phúc.

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Ngọc– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh– Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2025/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 2 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2025/QĐXXST-HN&GĐ, ngày 16/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2025/QĐST-DS ngày 8/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phùng Xuân D, sinh năm 1990; Có mặt,

Nơi cư trú: Số I đường số B, thôn F, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Chị Trần Thị Cẩm T, sinh năm 1997; vắng mặt

Nơi cư trú: Số A, đường số B, thôn F, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/2/2025, bản tự khai, quá trình tố tụng nguyên đơn anh Phùng Xuân D trình bày: Vào năm 2017 anh Phùng Xuân D và chị Trần Thị Cẩm T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 7 năm. Đến ngày 9/3/2024 chị T tự ý bỏ nhà ra đi cho đến nay. Khi chị T bỏ đi anh D có gặp và động viên chị T trở về chung sống đoàn tụ và nuôi con, nhưng chị T vẫn không chịu quay về.

Nay anh D xác định không còn tình cảm với chị T, nên yêu cầu được ly hôn. Anh D1 và chị T có 02 con chung: Phùng Thị Mỹ U, sinh ngày 29/3/2018 và Phùng An Hải Y, sinh ngày 12/12/2021, các con hiện sống cùng với anh D1. Nếu ly hôn anh D1 yêu cầu tiếp tục được nuôi 02 con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Anh Dũng hiện làm nghề nông, thu nhập từ ruộng và cao su; còn chị T theo anh D1 khai là làm nghề may thu nhập chỉ 5.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa chị T không tham gia, nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của chị T về các yêu cầu khởi kiện của anh D1. Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho chị T, nhưng đến nay chị T cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.

Qua kết quả xác minh được biết: Anh Dũng và chị T là vợ chồng chung sống được khoảng 7-8 năm, thì chị T bỏ nhà ra đi. Vợ chồng anh D1 có 02 con, hiện do anh D1 nuôi. Thời gian gần đây chị T có liên lạc về thăm hỏi các con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, gửi thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và các đương sự đúng thời hạn luật định, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định, Thư ký phiên tòa thực hiện thủ tục tố tụng đúng quy định.

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định. Bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai, nên xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giao 02 con cho anh D1 nuôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là ly hôn, tranh chấp về nuôi con; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Tại phiên toà vắng mặt bị đơn đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Phùng Xuân D và chị Trần Thị Cẩm T là hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận vào năm 2017, nên được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, đến năm 2024 vợ chồng có mâu Thuẫn và chị T bỏ nhà ra đi cho đến nay. Ban đầu anh D có gặp khuyên nhủ, động viên chị T trở về chung sống, cùng chăm lo cho con cái, nhưng chị T vẫn không trở về. Qua thời gian, bản thân anh D xét thấy không còn tình cảm với chị T, nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được, nếu duy trì cũng không đem lại lợi ích cho các bên. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của anh D, xử cho ly hôn là phù hợp Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Anh Dũng và chị T có 02 con chung: Phùng Thị Mỹ U, sinh ngày 29/3/2018 và Phùng An Hải Y, sinh ngày 12/12/2021, hiện các cháu sống cùng cha và ông, bà nội. Anh Dũng có nguyện vọng nuôi cả 02 con. Xét hiện nay các con của anh D, chị T được anh D nuôi dưỡng đảm bảo và ổn định; bản thân cháu U cũng mong muốn sống với cha. Do đó tiếp tục giao cho anh D nuôi 02 là phù hợp Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về cấp dưỡng: Tại phiên tòa anh D không yêu cầu chị T cấp dưỡng là phù hợp. Vì anh D có nguồn thu nhập từ ruộng và cao su đảm bảo để nuôi các con được tốt. Bản thân chị T thu nhập thấp, nên không buộc chị T cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273, điểm a khoản 1 Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Về hôn nhân: Anh Phùng Xuân D ly hôn chị Trần Thị Cẩm T.
  2. Về con chung: Giao cho anh Phùng Xuân D được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con: Phùng Thị Mỹ U, sinh ngày 29/3/2018 và Phùng An Hải Y, sinh ngày 12/12/2021.

    Chị Trần Thị Cẩm T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phùng Xuân D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005222, ngày 24/2/2025. Anh Dũng đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể ngày tuyên án (30/5/2025); bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
  5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - CC THADS huyện Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV và THA tỉnh
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Lưu HSVA, QĐ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cuộc sống hôn nhân giữa ông D và bà T thật sự không còn hạnh phúc, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Do đó, ông D yêu cầu được ly hôn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger