Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28/5/2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Minh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Kỹ
2. Ông Trần Minh Phương.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Thanh Minh- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2025/TLST-HNGĐ ngày 15/4/2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1995. HKTT: Thôn M, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

- Bị đơn: Anh Phùng Đức Q, sinh năm 1993. HKTT: Thôn M, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Hàn Quốc.

(Các đương sự đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Trịnh Thị T trình bày: Chị và anh Phùng Đức Q đã kết hôn từ ngày 05/02/2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng vẫn hạnh phúc, hoà thuận. Cuối năm 2018 anh Q xuất cảnh sang Hàn Quốc sinh sống và làm việc. Từ khoảng đầu năm 2023 trở lại đây cuộc sống hôn nhân của vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống. Giữa chị và anh Q không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cũng như không còn cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nay chị T làm đơn xin ly hôn với anh Q.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phùng Quỳnh A, sinh ngày 06/09/2018. Hiện cháu Quỳnh A đang sống với chị T. Khi ly hôn chị T xin trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Quỳnh A.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị T đề nghị không tiến hành hòa giải và xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Phùng Đức Q đã được Tòa án thông báo, triệu tập và làm việc với người thân của anh Q nhiều lần, nhưng anh Q không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.

Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Phùng Đức N là bố đẻ của anh Q, ông N trình bày: Ông là bố đẻ của Phùng Đức Q, sinh năm 1993. HKTT: Thôn M, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Hàn Quốc. Năm 2018, ông có tổ chức lễ kết hôn cho con trai ông với cháu Trịnh Thị T. Sau khi kết hôn, vợ chồng Q - Tính có 01 con chung là cháu Phùng Quỳnh A, sinh ngày 06/09/2018. Sau đó, con trai ông đi nước ngoài từ cuối năm 2018, hiện đang làm việc tại Hàn Quốc. Con trai ông vẫn thường xuyên gọi điện về cho ông và gia đình, ông đã thông báo về việc cháu T làm đơn xin ly hôn cháu Q thì con trai ông nhờ ông nhắn lại với Tòa án như sau: Con trai ông đồng ý ly hôn với cháu T, về con chung cháu Q đồng ý đề cháu T trực tiếp nuôi dưỡng con chung, vấn đề cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ không yêu cầu giải quyết. Do bận công việc nên con trai ông không gửi văn bản trình bày ý kiến về và đề nghị xét xử vắng mặt, mọi giấy tờ con trai ông ủy quyền cho ông nhận thay.

Nay liên quan đến việc ly hôn giữa con trai ông với cháu Trịnh Thị T thì ông N đồng ý nhận ủy quyền của con trai ông về việc nhận giấy tờ, tài liệu của Tòa án, ông cam kết sẽ giao lại những văn bản này cho cháu Q ngay trong ngày nhận được.

Tại phiên toà nguyên đơn là chị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị T, xử cho chị Trịnh Thị T được ly hôn anh Phùng Đức Q. Về con chung: đề nghị giao cháu Phùng Quỳnh A, sinh ngày 06/09/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, chị Trịnh Thị T đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Phùng Đức Q và đề nghị giao 01 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Phùng Đức Q có hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Hàn Quốc. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn anh Phùng Đức Q trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, gửi các văn bản tố tụng qua bố đẻ là ông Phùng Đức N nhưng anh Q đều không gửi văn bản cho Tòa án, chỉ truyền đạt lại quan điểm giải quyết thông qua ông N. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Q có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Sau khi kết hôn, theo chị T trình bày thời gian đầu vợ chồng có cuộc sống hòa thuận, sau đó, từ khoảng đầu năm 2023 trở lại đây cuộc sống hôn nhân của vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống. Giữa chị và anh Q không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho chị Trịnh Thị T được ly hôn anh Phùng Đức Q.

[2.2]. Về con chung: Chị T và anh Q có 01 con chung là cháu Phùng Quỳnh A, sinh ngày 06/09/2018. Khi ly hôn, chị T xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh Q cũng nhất trí. Do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định, tránh những xáo trộn không cần thiết, cần giao cháu Phùng Quỳnh A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Chị T và anh Q đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị Trịnh Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trịnh Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị T được ly hôn anh Phùng Đức Q.
  2. Về con chung: Giao Phùng Quỳnh A, sinh ngày 06/09/2018 cho chị Trịnh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu Quỳnh A đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.

  3. Về án phí: Chị Trịnh Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000390 ngày 14/4/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬCHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Kỹ Trần Minh PhươngNguyễn Hữu Minh

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trịnh Thị T được ly hôn anh Phùng Đức Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger