|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28 – 5 – 2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Kim Lý
- Ông Lương Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2025/QĐST - HNGĐ ngày 08/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Mộng N, sinh năm: 1981; địa chỉ cư trú: Tổ G, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn: Ông Trần Chí C, sinh năm: 1981; địa chỉ cư trú: Tổ G, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
(bà N, ông C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 21/11/2024, Bản tự khai đề ngày 17/3/2025, nguyên đơn bà Trần Mộng N trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông C tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B cấp giấy chứng nhận kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 92 ngày 26/8/2019. Thời gian chung sống vợ chồng thường bất hòa, xúc phạm nhau, nguyên nhân do ông C không chuyên tâm làm ăn, lo cho gia đình. Bên cạnh đó ông C thường xuyên uống rượu say, đánh bà N, vợ chồng xảy ra xô xát, bà N và ông C đã không còn chung sống. Thời gian không chung sống ông C thường tìm bà N để gây hấn nên bà N rất lo lắng về tính mạng, sức khỏe của mình. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông C nên đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông C.
Về con chung: Bà và ông C có hai con chung là Trần Hùng P, sinh ngày: 05/7/2019 và Trần Cao M, sinh ngày: 24/3/2021, các con chung đang sống cùng với bà. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà N là công nhân, thu nhập bình quân khoảng 8.000.000đ/tháng.
Về tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, nợ riêng: Vợ chồng không có nợ chung, nợ riêng.
Theo bản tự khai ngày 17/3/2025, bị đơn ông Trần Chí C trình bày:
Về hôn nhân: Ông không đồng ý ly hôn với bà N vì lý do các con còn nhỏ, ông cho rằng mâu thuẫn vợ chồng có thể hàn gắn được.
Về con chung: Ông C thừa nhận vợ chồng có hai con chung là Trần Hùng P, sinh ngày: 05/7/2019 và Trần Cao M, sinh ngày: 24/3/2021, hiện đang sống với bà N. Ông C chưa có ý kiến gì đối với con chung.
Các vấn đề khác ông C không trình bày ý kiến.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
Về việc giải quyết tranh chấp: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Bà N và ông C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B (nay là thành phố B) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 92 ngày 26/8/2019. Việc đăng ký kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó hôn nhân giữa bà N và ông C là hôn nhân hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chung sống, giữa bà N và ông C phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong lối sống và sinh hoạt. Ông bà đã tìm nhiều biện pháp để khắc phục mâu thuẫn nhưng không giải quyết được, ông bà đã không còn chung sống. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông Công trình bày ý kiến muốn khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, ông C vắng mặt tại các phiên họp, phiên tòa không có lý do, thể hiện việc ông không còn thiện chí hàn gắn, đoàn tụ; bản thân bà N cương quyết giữ yêu cầu ly hôn. Như vậy đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà N và ông C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N, cho bà N và ông C được ly hôn.
[3] Về con chung: Bà N và ông C có 02 con chung là Trần Hùng P, sinh ngày: 05/7/2019 và Trần Cao M, sinh ngày: 24/3/2021, hiện sống cùng với bà N. Bà N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con, ông C không có ý kiến. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện các con chung đang sống với bà N nên việc tiếp tục giao cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục... là cần thiết, bảo vệ được quyền lợi về mọi mặt của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N.
[4] Về cấp dưỡng: Bà N đã được Tòa án giải thích việc người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại khoản 1 Điều 83 và khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên bà N không yêu cầu ông C thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản: Bà N, ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nghĩa vụ tài sản: Các đương sự tự khai không có nợ chung, nợ riêng, không đề nghị xem xét nên không giải quyết.
[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí theo quy định.
[8] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
[9] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; điều 235 và điều 266 của Bộ luật tố tụng dân dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015;
Các Điều 51, 55, 71, 81, 82, 83, 84, 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Mộng N, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Trần Chí C.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Mộng N và ông Trần Chí C.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Mộng N và ông Trần Chí C chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Trần Hùng P, sinh ngày: 05/7/2019 và Trần Cao M, sinh ngày: 24/3/2021 cho bà N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục... Bà N không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản: Bà N và ông C không tranh chấp nên không giải quyết.
- Về nghĩa vụ tài sản: Các đương sự khai không có, không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Trần Mộng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số: 0000103 ngày 04/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bình Dương. Bà N đã nộp đủ án phí.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được cấp, tống đạt hoặc được niêm yết theo quy định.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người
được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Nga |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Mộng N yêu cầu được ly hôn với ông Trần Chí C
