TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 6 - 2025 “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Bích Tuyền, ông Nguyễn Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 115/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị C, sinh năm 2004, nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Dương Trung H, sinh năm 2003, nơi cư trú: số B, tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị C trình bày:
Bà C và ông Dương Trung H tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố C vào năm 2024. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nhận thấy, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên bà C yêu cầu ly hôn với ông H.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H nhưng ông H không đến tham gia hòa giải nên không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn vắng mặt (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt), bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Phát biểu của Kiểm sát viên:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
+ Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không có lý do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Bà C và ông H tự tìm hiểu, tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, qua lời trình bày của bà C. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Bà C và ông H đã sống ly thân 06 tháng nay. Nhận thấy, vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn quá lớn không thể hàn gắn nên bà C yêu cầu được ly hôn với ông H. Quá trình giải quyết Tòa án tiến hành hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông H nhiều lần vắng mặt, không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C và bà C cương quyết ly hôn với ông H. Điều đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng có kéo dài cuộc hôn nhân thì mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C.
Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Bà C khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Phạm Thị C ly hôn với ông Dương Trung H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Dương Trung H có nơi cư trú tại: khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà C có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông H được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông H có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 66 ngày 05/8/2024 tại UBND phường V, thành phố C, tỉnh An Giang là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Theo bà C khai nguyên nhân mẫu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, đã không còn sống chung khoảng 06 tháng nay, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên bà C yêu cầu ly hôn với ông H.
Theo kết quả xác minh do Văn phòng K, phường V cung cấp: ông H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số B, tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa phương, thỉnh thoảng có về địa phương vào dịp tết. Về tình trạng hôn nhân của bà C và ông H thì địa phương không rõ.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Tòa án nhiều lần thông báo cho ông H để cung cấp lời khai, trình bày ý kiến và mời hòa giải để tạo điều kiện động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy ông H không có thiện chí, mong muốn hàn gắn tình cảm. Đồng thời, vợ chồng xa cách đã lâu nhưng các bên vẫn không thể hàn gắn được. Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C về việc ly hôn với ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà C khai không có nên không đặt ra để giải quyết.
[5] Về án phí: Bà C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị C
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị C được ly hôn với ông Dương Trung H.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Phạm Thị C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006253 ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, bà C đã nộp đủ án phí.
Ông Dương Trung H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
3. Giấy chứng nhận kết hôn số 66 do UBND phường V, thành phố C, tỉnh An Giang cấp ngày 05/8/2024, không còn giá trị pháp lý.
4. Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị C, ông Dương Trung H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND TP. Châu Đốc; - Chi cục THADS TP. Châu Đốc; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Đại Nam |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà C ly hôn ông H
