|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST Ngày 24 tháng 01 năm 2025 V/v: Xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thuỵ
2. Bà Lưu Thị Kim Hiền.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo – Thẩm tra viên tòa án nhân dân quận Ba Đình ghi biên bản phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 844/2024/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 539/2024/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1995;
Nơi thường trú: Số C ngõ D phố V, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: 8 ngách A Đê T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
- Bị đơn: Anh Hứa Quang H, sinh năm 1987;
Nơi thường trú: H N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Địa chỉ hiện nay: Đ, K3 Trại giam S, T, tỉnh Nghệ An. (Xóm A, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An).
Hiện đang thi hành án tại phân trại số 3 Trại giam S, T, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 01/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn chị Nguyễn Thu T trình bày:
- Về tình trạng hôn nhân: Vợ chồng anh chị kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 27/2017, ngày 13/03/2017 tại Ủy ban nhân phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội.
Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống tại H N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội cho đến cuối năm 2017 thì vợ chồng mâu thuẫn, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại số H ngách A Đê T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội cho đến nay. Còn anh H và con gái anh chị vẫn ở tại H N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội cùng bố mẹ chồng chị cho đến khi anh H vi phạm pháp luật và bị bắt vào ngày 19/02/2023.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian ngắn sau đó phát sinh mâu thuẫn. Anh H tính cục cằn nóng nảy, hay dùng vũ lực đánh chị nên chị phải về nhà bố mẹ đẻ ở tại địa chỉ 8 ngách A Đê T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội cho đến nay. Ngày 19/02/2023 anh H đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” đã bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử với mức hình phạt 03 năm tù giam. Hiện nay, anh H đang thi hành án tại Trại giam S, T, tỉnh Nghệ An, chị thấy anh H không chịu hoàn lương để cải tạo tốt, không thương yêu chị nữa, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyện vọng của chị là xin ly hôn với anh Hứa Quang H.
- Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Hứa Bảo H1 (Giới tính: Nữ); sinh ngày 03/11/2015. Khi anh H chưa bị bắt cháu ở với anh H và ông bà nội. Từ khi anh H bị bắt cháu vẫn ở với ông bà nội, hiện tại chị không có việc làm,
không có thu nhập. Nếu ly hôn, anh H có nguyện vọng nuôi con thì chị đồng ý để anh H nuôi con. Trong thời gian anh H đi thi hành án thì bố mẹ chồng chị sẽ chu cấp, nuôi dưỡng cháu Hứa Bảo H1. Chị xin tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho đến khi nào anh H yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nhà ở: Vợ chồng anh chị không có nhà ở chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng anh chị không nợ ai và không cho ai vay nợ. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí ly hôn: Chị T tự nguyện chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Trong bản tự khai ngày 20/12/2024 tại Phân trại số 3 Trại giam số 6 Thanh Chương của bị đơn anh Hứa Quang H trình bày:
- Về tình trạng hôn nhân: Vợ chồng anh chị kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn số 27/2017, ngày 13/03/2017 tại Ủy ban nhân phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội.
Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống tại H N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội cho đến ngày 19/02/2023 anh bị bắt về hành vi gây rối trật tự công cộng và ngày 10/6/2023 Toà án nhân dân quận Ba Đình đã xét xử phạt 3 năm tù giam. Hiện nay anh đang đi thi hành án tại trại giam S T, Nghệ An cho đến nay. Còn vợ anh hiện đang ở tại nhà bố mẹ đẻ tại số H ngách A Đê T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Con anh là cháu Hứa Bảo H1 hiện đang ở với bố mẹ anh chăm sóc trong thời gian anh đi thi hành án.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, bản thân anh hiện nay đang đi thi hành bản án của Tòa án nhân dân quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội với mức hình phạt 03 năm tù. Nay chị T làm đơn xin ly hôn với anh, anh đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Hứa Bảo H1 (Giới tính: Nữ); sinh ngày 03/11/2015. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu vì mẹ cháu là chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để cháu ở lại với anh. Hiện nay anh đang đi thi hành án tại trại giam S, T, Nghệ An nên con anh vẫn do mẹ anh chăm sóc và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Do hiện nay anh đang đi chấp hành án phạt tù nên anh đề nghị giao con chung là cháu Hứa Bảo H1 (Giới tính: Nữ); sinh ngày 03/11/2015 cho mẹ anh là bà Phạm Thị L nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nhà ở: Vợ chồng anh không có nhà ở chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng anh chị không nợ ai và không cho ai vay nợ. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí ly hôn: Anh đồng ý để chị T tự nguyện chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Do anh hiện nay đang thi hành án nên anh xin vắng mặt tại phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử cũng như trong tất cả các giai đoạn tố tụng của Tòa án.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho nguyên đơn, bị đơn, tuy nhiên trong bản tự khai của bị đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh trong các giai đoạn tố tụng, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải cho nguyên đơn và bị đơn được.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
- + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 175; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Thực hiện nguyên tắc hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo khoản 1 Điều 205; khoản 2 Điều 207; khoản 2 Điều 208; Điều 209; Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và khoản 4 Điều 3 Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội nước CHXHCNVN.
- + Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220; điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- + Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định tại Điều 63; Điều 227; 228 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- + Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- + Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 199; Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
* Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 42; Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; 63; khoản 4 Điều 70; khoản 1 Điều 71; khoản 1, khoản 3 Điều 81; Điều 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015 để xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và đề nghị Hội đồng xét
xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự về con chung; Tài sản chung và nhà ở; về nợ. Áp dụng Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHÂN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thu T và anh Hứa Quang H có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và có nơi cư trú trước khi anh H đi thi hành án tại: H N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Vì vậy, Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thu T và anh Hứa Quang H là quan hệ hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn số 27/2017, ngày 13/03/2017 tại Ủy ban nhân phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh H vi phạm pháp luật nên phải đi thi hành án, vợ chồng bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay anh chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được chị T xin ly hôn anh H thì anh cũng đồng ý ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Hứa Quang H. Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh chị, tuy nhiên tại bản tự khai của anh H xin được vắng mặt trong các giai đoạn tố tụng của Tòa án nên không hòa giải được, vì vậy Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Nguyễn Thu T và anh Hứa Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng chị T, anh H không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thu T và anh Hứa Quang H là phù hợp với pháp luật.
Về con chung:
Chị Nguyễn Thu T và anh Hứa Quang H có 01 con chung là cháu Hứa Bảo H1 (Giới tính: Nữ); sinh ngày 03/11/2015. Trong biên bản ghi lời khai của anh H, anh H có nguyện vọng nuôi cháu Hứa Bảo H1. Tại phiên tòa chị T đồng ý giao con chung là cháu Hứa Bảo H1 (Giới tính: Nữ); sinh ngày 03/11/2015 cho anh H nuôi dưỡng. Chị T xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của anh chị cũng phù hợp với nguyện vọng trong đơn đề nghị của con chung và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về tài sản chung và nhà ở:
Chị Nguyễn Thu T và anh Hứa Quang H xác nhận không có tài sản chung và nhà ở nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về nợ chung:
Chị Nguyễn Thu T và anh Hứa Quang H xác nhận vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ. Không yêu cầuTòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thu T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Chị Nguyễn Thu T và anh Hứa Quang H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ và nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng các Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 70; khoản 4 Điều 147; các Điều 203; 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thu T và anh Hứa Quang H.
2. Về con chung:
Giao con chung là cháu Hứa Bảo H1 (Giới tính: Nữ); sinh ngày 03/11/2015 cho anh Hứa Quang H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Nguyễn Thu T cho đến khi anh Hứa Quang H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật.
Chị Nguyễn Thu T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nhà ở:
Chị Nguyễn Thu T và anh Hứa Quang H xác nhận không có tài sản chung và nhà ở nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
4. Về nợ chung:
Chị Nguyễn Thu T và anh Hứa Quang H xác nhận vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
5. Về án phí sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thu T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0030911 ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Nguyễn Thu T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Hứa Quang H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGÔ THỊ VÂN |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về xin ly hôn
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thuận tình ly hôn
