|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14/11/2025 V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhan .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Phú, ông Nguyễn Minh Tân.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 298/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/10/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1997; ĐKHKTT: Thôn B, xã H, thành phố Hải Phòng; Hiện đang làm việc tại Nhật Bản. CMND số [...].
- Bị đơn: Anh Nguyễn Công T, sinh năm 1998; ĐKHKTT và hiện cư trú: Số H Hồ X, phường H, thành phố Hải Phòng. CCCD số [...].
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị và anh T được tự do tìm hiểu nhau một thời gian thì cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố H (nay là phường H, thành phố Hải Phòng) ngày 15/5/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về mọi vấn đề trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không còn yêu thương, tôn trọng nhau. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng vẫn không khắc phục được. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay, mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T; Vợ chồng 01 con chung là Nguyễn Tùng L, sinh ngày 15/10/2019. Đề nghị Tòa án giao cháu Tùng L cho anh T chăm sóc nuôi dưỡng, anh chị tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết; Vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị xin vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa xét xử vụ án.
Tại bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Công T trình bày: Về điều kiện kết hôn thống nhất như lời trình bày của chị M. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị M đi làm ở Nhật Bản vợ chồng xa cách nhau, không liên lạc nên tình cảm dần phai nhạt. Đến nay anh xác định tình cảm vợ chồng với chị M không còn, chị M xin ly hôn, anh đồng ý. Vợ chồng 01 con chung là Nguyễn Tùng L, sinh ngày 15/10/2019. Cháu L ở cùng anh từ khi chị M đi nước ngoài nên anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và công sức cho gia đình hai bên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh xin được vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh T đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường H, thành phố Hải Phòng. Chị M, anh T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị M, anh T là phù hợp quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị M, anh T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định. Do vậy, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Lời trình bày của chị M, anh T thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc khoảng một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự tin tưởng, yêu thương, chăm sóc nhau. Nay chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh T, anh T đồng ý. Do vậy cần xử cho chị M ly hôn anh T là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Tùng L, sinh ngày 15/10/2019. Hiện cháu L đang ở cùng anh T. Anh T có nguyện vọng nuôi con, chị M nhất trí. Chị M, anh T đều tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy cần giao cháu Tùng L cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, chấp nhận sự tự nguyện của anh T về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho gia đình hai bên: Chị M, anh T đều không yêu cầu Toà án giải quyết, do vậy hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị M xin ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định tại điểm a mục 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật TTDS sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M.
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị M ly hôn anh Nguyễn Công T.
- - Về nuôi con chung: Xử giao cho anh Nguyễn Công T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tùng L, sinh ngày 15/10/2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T về việc không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị Nguyễn Thị M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003493 ngày 10/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Hải Phòng. Chị M đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị M vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, anh Nguyễn Công T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: - VKSND khu vực 8 – Hải Phòng; - Phòng THADS khu vực 8 – Hải Phòng; - Các đương sự; - UBND phường Hải Dương, Hải Phòng - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhan |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 14/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M-Nguyễn Công T tranh chấp ly hôn
