Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST.

Ngày 13/6/2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Kỳ Trung.

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 502/2024/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47a/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Tú N, sinh năm 1991; vắng mặt.

Địa chỉ: 1 N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; cư trú tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: anh Tăng Trọng N1, sinh năm 1985; vắng mặt.

Địa chỉ: ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Cư trú tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Tú N trình bày:

Chị và anh Tăng Trọng N1 chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 31 ngày 12/02/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhà cha, mẹ ruột của anh N1 tại ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; sau đó vợ chồng chị đến cư trú và làm việc tại khu phố A, phường A, thị xã T từ khoảng năm 2020 đến nay. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng dần phát sinh mâu thuẫn do tính tình của vợ, chồng không còn phù hợp với nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và kinh tế gia đình; giữa vợ, chồng không còn lòng tin đối với nhau, thường xuyên gây gỗ nhau, cuộc sống luôn căng thẳng, nặng nề, không còn hạnh phúc. Vợ chồng chị đã tự ly thân từ tháng 6/2024 đến nay, không còn chung sống và quan tâm đến nhau, không ai có thiện chí hàn gắn. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh N1.

Về con chung: vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Tăng Ngọc An N2, sinh ngày 29/11/2018 và cháu Tăng Hạo N3, sinh ngày 02/5/2020 hiện đang chung sống cùng cha, mẹ của anh N1 vì chị và anh N1 đều phải đi làm việc tại thị xã T nên vợ chồng chị đã gửi cháu An N2 và cháu Hạo N3 cho cha, mẹ của anh N1 trông nom, nuôi dưỡng. Cháu An N2 và cháu Hạo N3 hiện rất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh gì. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Tăng Ngọc An N2, không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con và đồng ý giao cháu Tăng Hạo N3 cho anh N1 được tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng chị không nợ ai.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập anh Tăng Trọng N1 đến Toà án lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà nhưng anh N1 đều vắng mặt nên không thể hiện được lời trình bày và yêu cầu của anh N1.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Riêng bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Tú N đối với anh Tăng Trọng N1. Chị N được ly hôn anh N1.

Về con chung: đề nghị giao cháu Tăng Ngọc An N2, sinh ngày 29/11/2018 và cháu Tăng Hạo N3, sinh ngày 02/5/2020 cho anh N1 được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: chị N, anh N1 không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: chị N trình bày không có nợ.

Về án phí: chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Tú N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Tăng Trọng N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị N và anh N1 tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Do đó, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ, chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị N trình bày là do tính tình của vợ, chồng không còn phù hợp với nhau, thường gây gỗ nhau vì kinh tế gia đình và không còn lòng tin về tình cảm đối với nhau nên vợ chồng chị N, anh N1 đã tự ly thân từ tháng 6/20224 đến nay. Nay chị N yêu cầu được ly hôn anh N1.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, triệu tập hợp lệ anh N1 nhiều lần nhưng anh N1 đều vắng mặt, không gửi bản tự khai cho Tòa án, cho thấy anh N1 không có thiện chí hàn gắn cùng chị N. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, chị N đều giữ nguyên yêu cầu được ly hôn, không muốn hàn gắn với anh N1, cho thấy đời sống hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khả năng đoàn tụ giữa chị N và anh N1 đã không còn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh N1, cho chị N được ly hôn anh N1 là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: vợ chồng chị N, anh N1 có 02 con chung là cháu Tăng Ngọc An N2, sinh ngày 29/11/2018 và cháu Tăng Hạo N3, sinh ngày 02/5/2020. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Tăng Ngọc An N2 và đồng ý giao cháu Tăng Hạo N3 cho anh N1 được tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, từ trước đến nay cháu An N2 và cháu Hạo N3 đều chung sống cùng cha, mẹ của anh N1 do chị N, anh N1 đều phải đi làm việc xa nhà. Mặt khác, từ khi chị N và anh N1 ly thân thì cháu An N2 và cháu Hạo N3 cũng theo sống cùng cùng cha, mẹ của anh N1; các cháu phát triển rất tốt về mặt thể chất lẫn tinh thần. Do đó, để đảm bảo được sự phát triển toàn diện và ổn định về tinh thần, nơi ở của các con, Hội đồng xét xử giao cháu An N2 và cháu Hạo N3 cho anh N1 được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Ghi nhận anh N1 không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Chị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: chị N, anh N1 không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: chị N trình bày không có nợ.

[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận một phần.

[6] Án phí: chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Tú N đối với anh Tăng Trọng N1.

Chị Nguyễn Tú N được ly hôn anh Tăng Trọng N1.

2. Về con chung: giao cháu Tăng Ngọc An N2, sinh ngày 29/11/2018 và cháu Tăng Hạo N3, sinh ngày 02/5/2020 cho anh Tăng Trọng N1 được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận anh N1 không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Chị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: chị N, anh N1 không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

4. Về nợ chung: chị N trình bày không có nợ.

5. Án phí: chị Nguyễn Tú N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012109 ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị N đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

6. Chị N, anh N1 có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND thị xã Trảng Bàng;
  • - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;
  • - UBND phường Vĩnh Bảo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Thị Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tú N ly hôn Tăng Trọng Nh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger