TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 6 - 2025
“Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Văn Hoàng
- Bà Phạm Thùy Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 63/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1989; nơi cư trú: số A, tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Minh T, sinh năm 1983; nơi cư trú: số A, tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/02/2025, bản tự khai và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Phạm Minh T chung sống với nhau vào năm 2010, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 13/2011 cấp ngày 08/02/2011.
Cuộc sống chung của vợ chồng có hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình vợ chồng ngày càng không phù hợp nên hay xảy ra cải vã, từ đó dẫn đến cuộc sống chung của vợ chồng ngày càng không còn hạnh phúc nên tôi với anh T đã không còn chung sống từ đó cho đến nay. Chị N cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên yêu cầu ly hôn với anh Phạm Minh T.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Lê Thị N và anh Phạm Minh T có một con chung tên: Phạm Tuấn K, sinh ngày 18/5/2011, hiện nay đang sống chung và do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Minh T có đăng ký thường trú tại: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Tại thời điểm giải quyết vụ án, anh T không có mặt tại nơi cư trú và cũng không đến Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án không ghi được lời khai nhưng đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định.
Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang:
Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham giam gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Phạm Minh T vắng mặt phiên tòa lần thứ hai, do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn với anh Phạm Minh T.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 18/5/2011 cho chị Lê Thị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Phạm Minh T không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phạm Minh T, anh T có đăng ký thường trú tại: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn anh Phạm Minh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Phạm Minh T sống chung có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 13/2011 cấp ngày 08/02/2011 là hôn nhân hợp pháp.
Cuộc sống chung của vợ chồng có hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chị N cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình ngày càng không phù hợp nên hay xảy ra cải vã, từ đó dẫn đến cuộc sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị với anh T đã không còn chung sống từ đó cho đến nay. Do không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, đời sống chung của vợ chồng không thể tiếp tục được nữa nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh T.
Xét thấy, anh Phạm Minh T không có bản tự khai và cũng không đến Tòa án giải quyết vụ án, do đó Tòa án không ghi được lời khai của bị đơn, nhưng theo biên bản ghi lời khai người làm chứng ngày 06/5/2025 thì được biết anh T và chị N sống chung không có hạnh phúc và đã không còn chung sống với nhau khoảng 02 năm nay. Mặc dù gia đình hai bên và vợ chồng anh T, chị N cũng đã nhiều lần có động thái hàn gắn tình cảm vợ chồng để tiếp tục sống chung lại với nhau nhưng không có kết quả.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, tạo điều kiện cho chị N và anh T đoàn tụ, sống chung lại với nhau nhưng anh T không đến để giải quyết vụ án, không còn quan tâm đến cuộc sống chung của vợ chồng, điều này cho thấy hôn nhân giữa chị N và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần cho chị N ly hôn với anh T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Giấy chứng nhận kết hôn số13/2011 cấp ngày 08/02/2011 do Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang cấp cho chị Lê Thị N và anh Phạm Minh T không còn giá trị pháp lý.
[2.2] Về con chung: chị Lê Thị N và anh Phạm Minh T có một con chung tên: Phạm Tuấn K, sinh ngày 18/5/2011. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, kể từ khi chị N và anh T không còn chung sống với nhau, cháu Phạm Tuấn K do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và lo việc học hành, đã sinh sống ổn định với chị N. Do đó, để đảm bảo về quyền lợi mọi mặt của con, cần tạm giao cháu Phạm Tuấn K cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của cháu K và có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản và nợ chung: Chị Lê Thị N trình bày trong thời gian chung sống với anh Phạm Minh T không có tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung, nhưng do chưa ghi được lời khai của anh T, ngoài lời khai của chị N không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh trong thời gian chung sống, chị N và anh T có tài sản chung và nợ chung hay không. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị N được ly hôn với anh Phạm Minh T.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 18/5/2011 cho chị Lê Thị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Phạm Minh T không cấp dưỡng nuôi con.
Chị Lê Thị N cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Phạm Minh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009047 ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Minh T được quyền kháng cáo trong thời hạn trên, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Sang |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Lê Thị Ngoan được ly hôn với anh Phạm Minh Tân
