|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13 - 3 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Châu Trung Trực
Bà Nguyễn Kim Kết
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Phương T, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Nơi ở hiện tại: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
- - Bị đơn: Anh Trần Văn T1, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Nơi ở hiện tại: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Chị Nguyễn Phương T trình bày:
- - Về hôn nhân: Chị T và anh T1 tổ chức đám cưới và sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ vào ngày 28/02/2014. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh T2 hay đi nhậu, chửi mắng và đánh vợ nhiều lần, gia đình hai bên có hòa giải và anh T1 cũng hứa hẹn nhưng đều không sửa đổi, chị T đã ly thân với anh T1 từ Tết năm 2025 đến nay. Nay cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, chị T xác định không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.
- - Về con chung: Chị T yêu cầu được nuôi Trần Yến V, sinh ngày 21/11/2014 và giao Trần Yến M, sinh ngày 01/12/2020 cho anh T1 nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra. Trường hợp giao hai con cho chị T nuôi thì chị yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con 6.000.000 đồng/tháng/2 con chung.
- - Về tài sản và nợ chung: Chị T xác định tự thỏa thuận tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Anh Trần Văn T1 trình bày:
- - Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn như chị T trình bày là đúng. Anh T1 thừa nhận anh có đi nhậu nhiều, thường xuyên và liên tục trong thời gian dài, anh T1 đã biết anh sai với chị T. Một phần cũng do tính chất công việc của anh phải đi nhiều, công việc vất vả nên anh có bạn bè nhiều và đi nhậu, khi về nhà chị T lại ít chia sẽ, tâm sự với anh nên anh sinh ra nóng nảy và chửi mắng, đánh đập chị T. Tuy nhiên, hiện tại tình cảm của anh vẫn còn, anh mong chị T cho anh cơ hội hàn gắn để cùng chăm lo cho con. Do đó, anh không đồng ý ly hôn với chị T.
- - Về con chung: Hai con chung tên Trần Yến V, sinh ngày 21/11/2014 và giao Trần Yến M, sinh ngày 01/12/2020. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì anh yêu cầu giao hai con cho chị T nuôi, bởi vì do tính chất công việc đi nhiều anh không thể chăm sóc các con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Anh Thân xác định tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh T1 đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự là đúng quy định.
[2] Về hôn nhân: Chị T và anh T1 kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống chị T và anh T1 đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn chủ yếu xung quanh vấn đề anh T1 thường xuyên đi nhậu, chửi mắng và đánh đập chị T. Nay chị T yêu cầu ly hôn, anh T1 không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, thương yêu tôn trọng quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng nhau chia sẽ và thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, anh chị xảy mâu thuẫn kéo dài mà không thể hàn gắn được, anh T1 không làm tròn nghĩa vụ về tình nghĩa vợ chồng đối với chị T, trong suốt thời gian dài anh có hành vi đánh đập và chửi mắng chị. Hiện tại, chị T xác định không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống cho thấy mâu thuẫn của anh chị quá lớn, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không còn đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình về ly hôn theo yêu cầu của một bên để cho chị T được ly hôn với anh T1 là phù hợp.
[3] Về con chung: Khi ly hôn cha mẹ đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị T yêu cầu nuôi Yến V, giao Yến M cho anh T1 nuôi, anh T1 xác định điều kiện công việc nên không thể chăm sóc con. Đối với cháu Trần Yến V có nguyện vọng được sống tiếp tục cùng mẹ là chị T. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại các con chung đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, các con đều là nữ giới lại còn khá nhỏ nên cần giao cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ phù hợp hơn. Mặt khác, anh T1 xác định không đủ điều kiện về thời gian chăm sóc con chung. Do đó, để đảm bảo các điều kiện cho con phát triển tốt nhất và không làm xáo trộn cuộc sống ổn định hiện của các cháu. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung Trần Yến V và Trần Yến M cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T thấy rằng, tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: “2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.”. Tại phiên tòa, chị T thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, chị yêu cầu anh T1 cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng/2 con chung. Yêu cầu của chị T phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Do đó, buộc anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng/hai con chung, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 13/3/2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh T1 đều xác định tự thỏa thuận phần tài sản chung và về nợ không có, không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[5] Về án phí: Theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng; Anh T1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Phương T.
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Phương T được ly hôn anh Trần Văn T1.
-
Về con chung: Giao Trần Yến V, sinh ngày 21/11/2014 và Trần Yến M, sinh ngày 01/12/2020 cho chị Nguyễn Phương T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh Trần Văn T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 đồng/tháng/hai con chung, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 13/3/2025 đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Anh Trần Văn T1 không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
-
Về án phí:
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Phương T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002611 ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi (đã nộp xong).
- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Văn T1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), (chưa nộp);
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Ngọc Trúc |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
