TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13 - 3 - 2025
V/v tranh chấp xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Mầm.
Ông Nguyễn Tấn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Thư ký Tòa án.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 682/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 268/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1992 (vắng mặt).
- Địa chỉ cưu trú: Ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- - Bị đơn: Anh Phạm Thành Q, sinh năm 1992 (vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án chị Nguyễn Thị Kim S (Nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Q chung sống có đăng ký kết hôn ngày 05/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn cho vợ chồng nhưng không có kết quả và đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh Q.
Về con chung: Vợ chồng có con chung tên là Phạm Khánh B, sinh ngày 30 tháng 08 năm 2018 (Giới tính: Nữ). Sau khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu B và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ thu, nợ trả: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Phạm Thành Q, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu khởi kiện của chị S nhưng anh Q không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh Q tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh Q vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa anh, chị được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; phía anh Q đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh Q vắng mặt không lý do; nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị S và anh Q theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa chị S và anh Q là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Phạm Thành Q có địa chỉ cư trú tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Chị S và anh Q chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 05/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 85. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị S yêu cầu được ly hôn với anh Q, với nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cãi và đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Phía anh Q không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị S. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị S và anh Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị S, cho chị S được ly hôn với anh Q là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về con chung: Chị S xác định có con chung tên Phạm Khánh B, sinh ngày 30 tháng 08 năm 2018, hiện đang sống với chị S. Sau khi ly hôn, chị S yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu B và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, chị S đã nuôi dưỡng cháu từ khi anh chị sống ly thân đến nay đã ổn định, anh Q cũng không có ý kiến yêu cầu được nuôi con nên yêu cầu của chị S là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị S, giao cháu Phạm Khánh B, sinh ngày 30 tháng 08 năm 2018 cho chị S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị S không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.3] Về tài sản chung: Chị S xác định không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía anh Q cũng không có yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.4] Về nợ thu, nợ trả: Chị S xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía anh Q cũng không có yêu cầu gì. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Nếu sau này, chị S và anh Q có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ thu, nợ trả có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị S phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim S.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim S được ly hôn với anh Phạm Thành Q.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kim S được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phạm Khánh B, sinh ngày 30 tháng 08 năm 2018. Anh Phạm Thành Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Phạm Thành Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim S phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0018929, ngày 26/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước; chị S đã nộp đủ án phí.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, chị Nguyễn Thị Kim S và anh Phạm Thành Q vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Trúc Hằng |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Kim S được ly hôn với anh Phạm Thành Q
