TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11-6-2025 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Trường Tam
Ông Phạm Minh Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Hà- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 154/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 03 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1985; Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Xin vắng mặt
- Bị đơn: Bà Hà Thùy D, sinh năm 1985; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn ông Nguyễn Duy K trình bày:
Hôn nhân: Ông Nguyễn Duy K và bà Hà Thùy D đến với nhau do quen biết, vợ chồng kết hôn và chung sống từ tháng 06 năm 2008. Sau đó, đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73, quyển số 01/2007-2008, ngày 04/8/2008.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung nhà cha mẹ vợ ở xã P, huyện C. Sau đó, cha mẹ vợ cho đất cất nhà riêng, cặp bên nhà của cha mẹ vợ vào năm 2020. Quá trình chung sống vợ chồng cũng có hạnh phúc, tuy nhiên vợ chồng hay cự cãi về vấn đề kinh tế gia đình và không hợp tính nên thường có tranh chấp xảy ra. Tháng 3/2023 thì vợ chồng cãi nhau và ông K đi nơi khác sinh sống cho đến nay.
Quá trình ly thân đến nay vợ chồng không liên lạc với nhau. Ông K có chủ động liên lạc nhưng bà D không không nghe máy. Do đó, ông K xét thấy vợ chồng không giải quyết được mâu thuẫn nên yêu cầu ly hôn.
Con chung: Nguyễn Trung L sinh ngày 01/9/2009 hiện đang sinh sống chung nhà với bà D. Sau khi ly hôn thì ông K đồng ý để vợ nuôi con chung, ông K không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết, bị đơn bà Hà Thùy D mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà D không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà căn cứ các kết quả tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An và quan hệ tranh chấp ly hôn căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 các Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về việc giải quyết vắng mặt: Ông Nguyễn Duy K có đơn xin vắng mặt, bà Hà Thùy D vắng mặt không có lý do dù đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần. Do đó, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Nguyễn Duy K và bà Hà Thùy D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An vào năm 2008, đúng với quy định tại tại Khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết có tổ chức hòa giải để vợ chồng có điều kiện đoàn tụ nhưng ông K vẫn kiên quyết ly hôn và bà D không đến hòa giải.
Tòa án đã hòa giải đoàn tụ nhưng không thành và hiện nay vợ chồng không còn sống chung đã lâu. Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”, xét thấy mâu thuẫn giữa ông K và bà D đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Duy K với bà Hà Thùy D.
[4] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Trung L sinh ngày 01/9/2009, hiện đang con chung đang sinh sống với bà D. Sau khi ly hôn, ông K đồng ý để bà D tiếp tục nuôi con, ông K không cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết, bà D không phản đối về yêu cầu của ông K, đồng thời không có yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận việc giao con chung Nguyễn Trung L sinh ngày 01/9/2009 cho bà D nuôi dưỡng, ông K không phải cấp dưỡng nuôi con.
[5] Tài sản chung, nợ chung: ông K trình bày không có nên không xét.
[6] Về án phí: Ông Nguyễn Duy K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 29, 51, 53, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Duy K về việc xin ly hôn.
- Về án phí: Ông Nguyễn Duy K phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước. Chuyển 300.000đ tiền tạm ứng mà ông K đã nộp theo biên lai thu số 0014185 ngày 21/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An sang án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Duy K được ly hôn với bà Hà Thùy D.
Về con chung: Bà Hà Thùy D tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trung L sinh ngày 01/9/2009. Ông Nguyễn Duy K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; cấp dưỡng nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định tại các Điều 69, 70, 71, 72, 81, 82, 83, 85, 110,116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phương Thảo |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN LY HÔN
