TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 51 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 10/03/2025 V/v: “ Tranh chấp Ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam
Ông Trần Văn Chánh
Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 03 năm 2025 tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2464/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025. Quyết định Hoãn phiên toà số: 64/2025/QĐ-HNGĐ ngày 20 tháng 2 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Trần Thị T, sinh năm 1982
Địa chỉ: 81/5/9k, tổ D, khu phố A, phường T, TP B, Đồng Nai.
Bị đơn: Ông Tạ Duy T1, sinh năm 1980
Địa chỉ: 81/5/9k, tổ D, khu phố A, phường T, TP B, Đồng Nai
( Bà T có đơn xin vắng mặt, Ông T1 vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Tôi có kết hôn với Anh Tạ Duy T1 ngày 20 tháng 02 năm 2005 Tại Ủy Ban N Xã T, Huyện Y, Tỉnh Nghệ An. Và chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2015 đến nay thì Anh có quan hệ ngoài luồng (ngoại tình) với những người phụ nữ khác .
Mặc dù tôi đã khuyên giải cũng như tha thứ để đảm bảo hạnh phúc gia đình nhưng chồng tôi là Anh Tạ Duy T1 không thay đối dẫn đến gia đình thường xuyên mâu thuẫn ảnh hưởng đến tâm sinh lý cũng như việc học hành của các con tôi.
Thời gian gần đây Anh lại tiếp tục ngoại tình và thường xuyên uống rượu bia về hành hạ mẹ con tôi. Đỉnh điểm là từ năm 2023 anh uống rượu bia về đã đánh đập tôi nhiều lần có lần còn đưa cả bình gas nấu ăn vào phòng định phóng hỏa giết mẹ con tôi .
Đời sống chung của vợ chồng tôi không thể hòa hợp nay tôi làm đơn này để đề nghị tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết thủ tục ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 03 con chung, gồm:
- + Cháu Tạ Trần Phương A, sinh ngày 28/11/2006.
- + Cháu Tạ Trần Uy D, sinh ngày 24/12/2009.
- + Cháu Tạ Trần Phương V, sinh ngày 25/07/2016.
Sau khi ly hôn bà T có nguyện vọng nuôi hai cháu Tạ Trần Uy D, sinh ngày 24/12/2009 và Tạ Trần Phương V, sinh ngày 25/07/2016 và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Tạ Trần Phương A, sinh ngày 28/11/2006 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòà giải quyết.
Về tài sản chung:
tự nguyện thoả thuận không yêu cầu toà án phân chia.
Về nợ chung:
Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Tạ Duy T1:
Trong quá trình giải quyết, ông T1 đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; được triệu tập hợp lệ để làm việc, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng ông T1 vẫn không đến Tòa án làm việc, và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký kể từ khi thụ lý vụ án là đúng quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành pháp đúng các thủ tục theo quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng các thủ tục theo quy định pháp luật;
Về nội dung giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về con chung:
Vợ chồng chung sống có 03 con chung, gồm:
- + Cháu Tạ Trần Phương A, sinh ngày 28/11/2006.
- + Cháu Tạ Trần Uy D, sinh ngày 24/12/2009.
- + Cháu Tạ Trần Phương V, sinh ngày 25/07/2016.
Sau khi ly hôn bà T có nguyện vọng nuôi hai cháu Tạ Trần Uy D, sinh ngày 24/12/2009 và Tạ Trần Phương V, sinh ngày 25/07/2016 và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Tạ Trần Phương A, sinh ngày 28/11/2006 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung:
Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thẩm quyền: Bà Trần Thị T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà giải quyết việc ly hôn. Ông Tạ Duy T1 có cư trú tại địa chỉ 81/5/9k, tổ D, khu phố A, phường T, TP B, Đồng Nai nên đơn khởi kiện về việc ly hôn của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Về tố tụng: Bà Trần Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông Tạ Duy T1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, thông báo về việc thụ lý vụ án; được triệu tập hợp lệ để làm việc, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt không có lý do,không có tin tức gì và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
3. Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T thì thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 trên cơ sở tự nguyện, đúng quy định về điều kiện kết hôn và được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định, nên quan hệ hôn nhân giữa các bên là hợp pháp được pháp luật công nhận. Xét tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T1 nhận thấy: Trong thời gian sống chung giữa bà T và ông T1 không được hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T1 lên Tòa án để làm việc, hòa giải nhưng ông T1 vắng mặt. Như vậy, ông T1 đã bỏ mặc hôn nhân không có ý định hàn gắn quan hệ hôn nhân với bà T. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không hoà thuận, tình cảm không còn, vợ chồng không thể chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét cần chấp nhận yêu cầu của bà T cho ly hôn với ông T1 là phù hợp với khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
4. Về con chung: Vợ chồng chung sống có 03 con chung, gồm:
- + Cháu Tạ Trần Phương A, sinh ngày 28/11/2006.
- + Cháu Tạ Trần Uy D, sinh ngày 24/12/2009.
- + Cháu Tạ Trần Phương V, sinh ngày 25/07/2016
Để đảm bảo cuộc sống của cháu được ổn định, việc xem xét để ai trực tiếp nuôi con cần đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hiện nay các cháu đang ở với bà T và có nguyện vọng ở với mẹ .Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai cháu Phương V và Uy Dũng bà Trần Thị T
được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Trần Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu cho đến khi cháu trưởng thành. Ông T1 tạm thời không cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Tạ Trần Phương A, sinh ngày 28/11/2006 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa giải quyết
5. Về tài sản, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết .
6. Về án phí: bà Trần Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ vào Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T. Bà Nguyễn Thị T2 được ly hôn với ông Tạ Duy T1
2.Về nuôi con chung:
Vợ chồng chung sống có 03 con chung, gồm:
- + Cháu Tạ Trần Phương A, sinh ngày 28/11/2006.
- + Cháu Tạ Trần Uy D, sinh ngày 24/12/2009.
- + Cháu Tạ Trần Phương V, sinh ngày 25/07/2016
Giao 02 con chung Tạ Trần Uy D, sinh ngày 24/12/2009 và Tạ Trần Phương V, sinh ngày 25/07/2016 cho bà T2 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Còn cháu Tạ Trần Phương A, sinh ngày 28/11/2006 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Sau ly hôn, ông Tạ Duy T1 vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông T1 có quyền thăm nom các con chung, không ai được cản trở ông T1 thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3.Về tài sản:
Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
4.Về án phí:
bà T2 phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn
đồng) mà bà T2 đã nộp tại biên lai số 0004266 ngày 07/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Ông L đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng
Nơi nhận :
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phước Vinh |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
