Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/DS-ST

Ngày: 26/6/2025

V/v: Tranh chấp Hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Diệu Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đàm Thị Hồng Nhung
  2. Bà Nguyễn Thị Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Sơn Hà, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Tân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 3254/2024/TLST-DS ngày 29/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2025/QĐXXST-DS, ngày 29/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2025/QÐST-DS ngày 29/5/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P;

Địa chỉ: Tòa nhà T, số 15 đường B, phường T, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1998 – là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số: 41/2025/UQ-OCB-CNGĐ ngày 25/6/2025).

Địa chỉ: Lầu B, số 135 đường T, phường C, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1983.

Địa chỉ 18A/109 đường N, phường Đ, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 26/6/2025, Bị đơn vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/3/2024, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 10/6/2024, bản tự khai và tại các buổi làm việc, hòa giải tại Tòa án, nguyên đơn – Ngân hàng TMCP P có ông Nguyễn Đức T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngân hàng TMCP P (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với bà Đỗ Thị H đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để vay vốn tại Ngân hàng chi tiết như sau:

Hợp đồng tín dụng số: TDCN21005719/2021/CGD/HĐTD ngày 23/12/2021 và Khế ước nhận nợ - khách hàng cá nhân số : TDCN21005719/2021/CGD/KUNN ngày 24/12/2021:

  • + Số tiền vay: 4.100.000.000 (Bốn tỷ một trăm triệu) đồng.
  • + Mục đích vay: Mua BĐS; Thời hạn vay : 240 (Hai trăm bốn mươi) tháng;
  • + Lãi suất vay: 8,5%/năm, lãi suất có điều chỉnh (Theo khế ước nhận nợ số TDCN21005719/2021/CGD/KUNN ngày 24/12/2021);
  • + Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên bao gồm:

Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất: 495. Tờ bản đồ số: 12. Địa chỉ: 10/5D ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sổ DA 181943, số vào sổ cấp GCN: CS 03221 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 03/06/2021, cập nhật thay đổi chủ sở hữu chuyển nhượng cho bà Đỗ Thị H ngày 22/12/2021 theo hồ sơ số 004908.CN.007.

Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (Áp dụng cho tài sản bảo đảm của bên vay) số TDCN21005719/2021/CGD/HĐTC ngày 23/12/2021 được Văn phòng Công chứng NTVC chứng nhận số công chứng: 7787, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/12/2021. Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (Ban hành kèm theo Thông tư số 07 ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Bộ Tư pháp) được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 24/12/2021.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà Đỗ Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng số: TDCN21005719/2021/CGD/HĐTD ngày 23/12/2021 và Khế ước nhận nợ - khách hàng cá nhân số: TDCN21005719/2021/CGD/KUNN ngày 24/12/2021.

Bà Đỗ Thị H mới thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền: 929.393.506 (Chín trăm hai mươi chín triệu ba trăm chín mươi ba nghìn năm trăm lẻ sáu) đồng, gồm: nợ gốc 360.148.365 (Ba trăm sáu mươi triệu một trăm bốn mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi lăm) đồng, nợ lãi: 568.367.023 (Năm trăm sáu mươi tám triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm hai mươi ba) đồng, lãi phạt: 878.118 (Tám trăm bảy mươi tám nghìn một trăm mười tám) đồng.

Dư nợ của Hợp đồng tín dụng số TDCN21005719/2021/CGD/HĐTD ngày 23/12/2021, tạm tính đến ngày 26/6/2025 là: 4.547.034.144 (Bốn tỷ năm trăm bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi bốn nghìn một trăm bốn mươi bốn) đồng bao gồm:

  • - Nợ gốc: 3.739.851.635 (Ba tỷ bảy trăm ba mươi chín triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm ba mươi lăm) đồng;
  • - Nợ lãi: 807.182.509 (Tám trăm lẻ bảy triệu một trăm tám mươi hai nghìn năm trăm lẻ chín) đồng.

Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến nay bà Đỗ Thị H vẫn không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng. Vì vậy, bà Đỗ Thị H đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các cam kết đã ký kết với Ngân hàng.

Do đó, Ngân hàng TMCP P đề nghị Tòa án nhân dân Quận 1 xem xét, giải quyết các yêu cầu sau:

  1. Buộc bà Đỗ Thị H trả cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ của Hợp đồng tín dụng số: TDCN21005719/2021/CGD/HĐTD ngày 23/12/2021 và Khế ước nhận nợ - khách hàng cá nhân số: TDCN21005719/2021/CGD/KUNN ngày 24/12/2021 tạm tính đến ngày 26/6/2025 là: 4.547.034.144 (Bốn tỷ năm trăm bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi bốn nghìn một trăm bốn mươi bốn) đồng bao gồm:
    • - Nợ gốc: 3.739.851.635 (Ba tỷ bảy trăm ba mươi chín triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm ba mươi lăm) đồng;
    • - Nợ lãi: 807.182.509 (Tám trăm lẻ bảy triệu một trăm tám mươi hai nghìn năm trăm lẻ chín) đồng.

    cho đến khi bà Đỗ Thị H hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P. Thanh toán một lần toàn bộ số tiền ngay sau khi quyết định/ bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

  2. Yêu cầu Tòa án giải quyết, xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể: Nếu bà Đỗ Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất: 495. Tờ bản đồ số: 12. Địa chỉ: 10/5D ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản

khác gắn liền với đất số DA 181943, số vào sổ cấp GCN: CS 03221 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 03/06/2021, cập nhật thay đổi chủ sở hữu chuyển nhượng cho bà Đỗ Thị H ngày 22/12/2021 theo hồ sơ số 004908.CN.007. Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (Áp dụng cho tài sản bảo đảm của bên vay) số TDCN21005719/2021/CGD/HĐTC ngày 23/12/2021 được Văn phòng Công chứng NTVC chứng nhận số công chứng: 7787, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/12/2021. Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (Ban hành kèm theo Thông tư số 07 ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Bộ Tư pháp) được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 24/12/2021.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong đơn khởi kiện, bản khai, các biên bản hòa giải và làm việc tại Tòa án nhân dân Quận 1.

Bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình xét xử nên không nộp tài liệu, chứng cứ nào tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, không có ý kiến đối với nội dung vụ án và các yêu cầu của nguyên đơn, đã được tòa án thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không có yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:

- Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Thẩm quyền giải quyết vụ án, thời hiệu khởi kiện, việc thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc tống đạt các văn bản tố tụng là đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 97, Điều 171, Điều 203 và Điều 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đảm bảo nguyên tắc công khai, độc lập, khách quan, trực tiếp, bằng lời nói và đúng trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 12, 14, 15, 237, 239, 250 và 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của các đương sự và Hội đồng xét xử: Trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa, nguyên đơn và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

1.1. Ngân hàng TMCP P khởi kiện yêu cầu bà Đỗ Thị H trả số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số: TDCN21005719/2021/CGD/HĐTD ngày 23/12/2021 và Khế ước nhận nợ - khách hàng cá nhân số : TDCN21005719/2021/CGD/KUNN ngày 24/12/2021. Đây là vụ án dân sự do tranh chấp phát sinh trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng. Bị đơn - bà Đỗ Thị H có địa chỉ cư trú tại Quận 1 nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

1.2. Theo kết quả xác minh của Công an phường Đ, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/11/2024: “CD Đỗ Thị H SN:1983 thường trú tại 18A/109 đường N, phường Đ, Quận 1. Hiện cư trú tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương”.Theo kết quả xác minh của Công an thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương ngày 04/12/2024: “Qua rà soát nhân, hộ khẩu qua sổ HK11 và trên kho dân cư tại phần mềm DLQG về DC, trên địa bàn không có công dân có thông tin: Đỗ Thị H, sinh năm 1983 đăng ký thường trú hoặc tạm trú tại Thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương”. Theo kết quả xác minh của Công an xã T, Thành phố Hồ Chí Minh công văn số: 391/CAV V/v trả lời Công văn số 107/2025/DS.CV-TAQ1 của TAND Quận 1 ngày 21/4/2025: “Tại thời điểm xác minh, không có ai đăng ký cư trú và thực tế sinh sống tại căn nhà số 10/5D, Ấp B, xã T, huyện H” (Địa chỉ tài sản đứng tên bà Đỗ Thị H đang thế chấp tại Ngân hàng).

Như vậy có cơ sở để xác định nơi cư trú cuối cùng của bà Đỗ Thị H tại địa chỉ 18A/109 đường N, phường Đ, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Quận 1 đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tại địa chỉ nêu trên.

Bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình xét xử nên không nộp tài liệu, chứng cứ nào tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, không có ý kiến đối với nội dung vụ án và các yêu cầu của nguyên đơn, đã được tòa án thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không có yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1.3. Về yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ:

Ngày 25/11/2024, ông Nguyễn Đức T là người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP P có đơn đề nghị xem xét, thẩm định tại chỗ.

Ngày 28/3/2025, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ số: 44/2025/QĐ-XXTĐTC.

Ngày 21/4/2025, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành việc xem xét thẩm định tại chỗ tại số 10/5D Ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ Ngân hàng TMCP P đã nộp theo Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số: 25173/TB-TA ngày 27/12/2024 và Phiếu thu ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh là: 6.000.000 (Sáu triệu) đồng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán lại cho nguyên đơn là phù hợp thỏa thuận các bên đã ký trong Hợp đồng tín dụng và quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Bị đơn bà Đỗ Thị H có trách nhiệm thanh toán lại số tiền tạm ứng chi phí nêu trên cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP P.

[2] Về pháp luật nội dung:

2.1. Xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc:

Xét, bà Đỗ Thị H đã ký Hợp đồng tín dụng số: TDCN21005719/2021/CGD/HĐTD ngày 23/12/2021 với Ngân hàng TMCP P. Ngân hàng TMCP P đã giải ngân số tiền: 4.100.000.000 (Bốn tỷ một trăm triệu) đồng cho bà Đỗ Thị H theo Khế ước nhận nợ - khách hàng cá nhân số: TDCN21005719/2021/CGD/KUNN ngày 24/12/2021. Sau khi được cấp tín dụng, bị đơn mới thực hiện được việc thanh toán một phần khoản nợ cho nguyên đơn tổng số tiền: 929.393.506 (Chín trăm hai mươi chín triệu ba trăm chín mươi ba nghìn năm trăm lẻ sáu) đồng, gồm: nợ gốc 360.148.365 (Ba trăm sáu mươi triệu một trăm bốn mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi lăm) đồng, nợ lãi: 568.367.023 (Năm trăm sáu mươi tám triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm hai mươi ba) đồng, lãi phạt: 878.118 (Tám trăm bảy mươi tám nghìn một trăm mười tám) đồng. Từ tháng 11/2023 đến nay, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng đã ký dẫn đến phát sinh nợ quá hạn, gây thiệt hại cho nguyên đơn.

Xét việc bà Đỗ Thị H đã nhận giải ngân số tiền như thỏa thuận đã ký trong Hợp đồng tín dụng nhưng mới thực hiện một phần nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP P nên yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP P là có cơ sở để chấp nhận.

2.2. Xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi do chậm thanh toán:

Xét thấy, Ngân hàng TMCP P đã giải ngân cho bà Đỗ Thị H theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Bị đơn đã sử dụng số tiền giải ngân nhưng mới thực hiện nghĩa vụ thanh toán lại số tiền 929.393.506 (Chín trăm hai mươi chín triệu ba trăm chín mươi ba nghìn năm trăm lẻ sáu) đồng, gồm: nợ gốc 360.148.365 (Ba trăm sáu mươi triệu một trăm bốn mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi lăm) đồng, nợ lãi: 568.367.023 (Năm

trăm sáu mươi tám triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm hai mươi ba) đồng, lãi phạt: 878.118 (Tám trăm bảy mươi tám nghìn một trăm mười tám) đồng cho nguyên đơn. Từ tháng 11/2023 đến nay, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng đã ký

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số: TDCN21005719/2021/CGD/HĐTD ngày 23/12/2021 và Khế ước nhận nợ - khách hàng cá nhân số: TDCN21005719/2021/CGD/KUNN ngày 24/12/2021 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy việc Ngân hàng TMCP P yêu cầu tính lãi suất đối với khoản tiền bị đơn đã sử dụng theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng số: TDCN21005719/2021/CGD/HĐTD ngày 23/12/2021 và Khế ước nhận nợ - khách hàng cá nhân số: TDCN21005719/2021/CGD/KUNN ngày 24/12/2021 là có cơ sở chấp nhận.

2.3. Xét phương thức và thời gian thanh toán:

Xét mặc dù bị đơn bà Đỗ Thị H đã nhận giải ngân và nguyên đơn Ngân hàng TMCP P đã nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ tháng 11/2023 đến nay và đối chiếu quy định pháp luật tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Đỗ Thị H phải trả ngay một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền bà Đỗ Thị H còn thiếu Ngân hàng TMCP P tạm tính đến ngày 26/6/2025 là: 4.547.034.144 (Bốn tỷ năm trăm bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi bốn nghìn một trăm bốn mươi bốn) đồng bao gồm:

  • - Nợ gốc: 3.739.851.635 (Ba tỷ bảy trăm ba mươi chín triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm ba mươi lăm) đồng;
  • - Nợ lãi: 807.182.509 (Tám trăm lẻ bảy triệu một trăm tám mươi hai nghìn năm trăm lẻ chín) đồng.

Kể từ ngày 27/6/2025, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, bà Đỗ Thị H còn phải trả cho Ngân hàng TMCP P khoản tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: TDCN21005719/2021/CGD/HĐTD ngày 23/12/2021 và Khế ước nhận nợ - khách hàng cá nhân số: TDCN21005719/2021/CGD/KUNN ngày 24/12/2021.

2.4. Xét yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ của nguyên đơn:

Xét, ngày 23/12/2024 bà Đỗ Thị H và Ngân hàng TMCP P đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (Áp dụng cho tài sản bảo đảm của bên vay) số TDCN21005719/2021/CGD/HĐTC được Văn phòng Công chứng NTVC chứng nhận số công chứng: 7787, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/12/2021. Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký thế chấp và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 24/12/2021.

Xét, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (Áp dụng cho tài sản bảo đảm của bên vay) số TDCN21005719/2021/CGD/HĐTC ngày 23/12/2021 do các bên tự nguyện giao kết, không trái quy định của pháp luật nên có giá trị thực hiện. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Trường hợp bà Đỗ Thị H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP P thì Ngân hàng TMCP P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất: 495. Tờ bản đồ số: 12. Địa chỉ: 10/5D ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 181943, số vào sổ cấp GCN: CS 03221 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 03/06/2021, cập nhật thay đổi chủ sở hữu chuyển nhượng cho bà Đỗ Thị H ngày 22/12/2021 theo hồ sơ số 004908.CN.007. Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (Áp dụng cho tài sản bảo đảm của bên vay) số TDCN21005719/2021/CGD/HĐTC ngày 23/12/2021 được Văn phòng Công chứng NTVC chứng nhận số công chứng: 7787, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/12/2021. Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (Ban hành kèm theo Thông tư số 07 ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Bộ Tư pháp) được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 24/12/2021.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Ngân hàng TMCP P không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Căn cứ Điều 8 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P: Buộc bà Đỗ Thị H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số: TDCN21005719/2021/CGD/HĐTD ngày 23/12/2021 và Khế ước nhận nợ - khách hàng cá nhân số: TDCN21005719/2021/CGD/KUNN ngày 24/12/2021 (Tạm tính đến ngày 26/6/2025) là: 4.547.034.144 (Bốn tỷ năm trăm bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi bốn nghìn một trăm bốn mươi bốn) đồng bao gồm:
    • - Nợ gốc: 3.739.851.635 (Ba tỷ bảy trăm ba mươi chín triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm ba mươi lăm) đồng;
    • - Nợ lãi: 807.182.509 (Tám trăm lẻ bảy triệu một trăm tám mươi hai nghìn năm trăm lẻ chín) đồng.

    Thời hạn thanh toán: Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 27/6/2025, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, bà Đỗ Thị H còn phải trả cho Ngân hàng TMCP P khoản tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: TDCN21005719/2021/CGD/HĐTD ngày 23/12/2021 và Khế ước nhận nợ - khách hàng cá nhân số: TDCN21005719/2021/CGD/KUNN ngày 24/12/2021.

    Trường hợp bà Đỗ Thị H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP P thì Ngân hàng TMCP P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất: 495. Tờ bản đồ số: 12. Địa chỉ: 10/5D ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 181943, số vào sổ cấp GCN: CS 03221 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 03/06/2021, cập nhật thay đổi chủ sở hữu chuyển nhượng cho bà Đỗ Thị H ngày 22/12/2021 theo hồ sơ số 004908.CN.007. Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (Áp dụng cho tài sản bảo đảm của bên vay) số TDCN21005719/2021/CGD/HĐTC ngày 23/12/2021 được Văn phòng Công chứng NTVC chứng nhận số công chứng: 7787, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/12/2021. Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (Ban hành kèm theo Thông tư số 07 ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Bộ Tư pháp) được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 24/12/2021.

    Bà Đỗ Thị H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP P chi phí xem xét thẩm định tại chỗ Ngân hàng TMCP P đã nộp theo Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số: 25173/TB-TA ngày 27/12/2024 và Phiếu thu ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh là: 6.000.000 (Sáu triệu) đồng.

Các bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Đỗ Thị H phải chịu án phí là: 112.547.034 (Một trăm mười hai triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn không trăm ba mươi bốn) đồng.

    Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 56.000.594 (Năm mươi sáu triệu năm trăm chín mươi bốn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0046772, Ký hiệu: BLTU/24P ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày đương sự nhận hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ bản án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 1, TP.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 1, TP.HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TAND QUẬN 1
DA1260625.TL.QDBA 11953

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Diệu Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 51/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger